Thứ Tư, 30 tháng 1, 2013

NHỊP CẦU EM BẮC

                                             NHỊP CẦU EM BẮC
                                                                   Thơ: Lê Nguyên Hồng
                             “Sông Cầu nước chảy lơ thơ
                             Đôi ta thương nhớ bao giờ cho nguôi
                             Ra sông lại nhớ tới người
                             Xuống sông uống nước cho vơi nỗi lòng”
                                                                             (ca dao)

                   “ Sông Cầu nước chảy lơ thơ…”
                   Sông trẻ mãi muôn đời trong câu hát
                   Sông nối tơ tình lứa đôi bền chặt
                   Để chiều nay nghe em hát: Sông Cầu…

                   Tên sông từng quen mà cứ ngỡ lần đầu
                   Em vẽ dòng xanh bằng lời dân ca quê mẹ
                   Em nói hồn sông trong lòng trôi lặng lẽ
-Em có cho anh làm người ở cuối sông?
                  
                   Em kéo về khoảng nắng, mảnh trời trong
                   Ẩn hiện cánh cò quê hương mềm như lá lúa
                   Trong câu hát thoảng lời ru của mẹ
                   Thấp thoáng vệt bùn vương vạt áo cha
                   Có cả giọng cười cô thôn nữ vang xa
                   Trăng tung tóe miệng gàu đêm tát nước
                   Gió đồng nội mang hương thơm mùa gặt
                   Giọt mồ hôi khô nhanh…

                   Anh chưa về Nội Duệ, cầu Lim
                   Mùa hát hội ai đợi ai đầu ngõ
                   Câu Quan họ: Người ơi, Người ở
                   Anh ước thầm em chỉ gọi anh thôi!

                   “ Người ở đừng về! Người ở, người ơi”
                   Anh cứ ngỡ chính em là câu hát
                   Có phải mẹ yêu cha thuở ban đầu da diết
Cũng bắt đầu từ câu hát: Người ơi…?

Anh chưa đến quê em
Chưa biết sông Thương có nhịp cầu ngang thương nhớ
Chưa gặp sông Cầu phù sa ráng đỏ
Đêm mơ sông Cầu
Ngày nhớ sông Thương

Anh sẽ đến quê em
Một vùng quê có cánh đồng như tranh, dòng sông như lụa
Bởi anh đa tình hay cớ duyên chi chẳng rõ
Hay câu hát bắc cầu cho anh đi tìm em?
                             ( Thường Tín, tháng 4-1985)

TIẾC NỤ TẦM XUÂN


    TIẾC NỤ TẦM XUÂN
                                   “Trèo lên cây bưởi hái hoa
                               Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
                                      Nụ Tầm xuân nở ra xanh biếc
                                      Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay!
                                           Ba đồng một mớ trầu cay
                          Sao anh không hỏi những ngày còn không?
                                            Bây giờ em đã có chồng
                                     Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
                                             Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
                                         Chim vào lồng biết thuở nào ra?”
                    (Ca dao)
      Truyện ngắn: Lê Nguyên Hồng

Câu chuyện xẩy ra tại một miền quê ở vùng châu thổ Bắc bộ thuở xa xưa.
Có chàng trai con nhà nghèo, bố mẹ quanh năm đi làm mướn để nuôi con. Chàng trai càng lớn càng khôi ngô, sáng dạ, gương mặt toát lên vẻ thông minh, lanh lợi. Chàng theo bố mẹ làm thuê cho nhà giàu. Do bản tính thích hiểu biết nên anh ta vừa làm cho chủ, vừa lắng nghe con cháu nhà chủ học bài do một ông giáo trên Phủ về dạy. Một hôm, mải chăm chú nghe bọn trẻ học bài, anh chàng quên đổ nước vào bể, bị ông chủ bắt gặp đánh đòn, suýt nữa bị đuổi việc. Con gái nhà ông chủ rất cảm tình với chàng trai nghèo. Hàng ngày cô ta nấp sau cánh cửa nhìn trộm chàng trai xách nước, làm cỏ cần mẫn trong vườn nhà mình. Tự nhiên cô bé thấy lòng xốn xang lạ. Những lúc vắng chàng trai, cô bé lòng như lửa đốt, đứng ngồi không yên. Cô đã đem lòng yêu chàng trai tự lúc nào không hay. Tên cô gái là Tầm Xuân. Cái tên đẹp và thuần khiết như một loài hoa. Nói là con nhà giàu nhưng Tầm Xuân là cô gái nết na, có một tấm lòng đôn hậu. Tình cảm và sự quan tâm của cô gái làm chàng trai cảm động. Nhưng chuyện giàu nghèo ngày xưa không phải chuyện đùa, khoảng cách xa nhau như dòng sông cuộn xiết, trai gái khác cảnh khó mà đến với nhau được. Hai người thầm yêu, trộm nhớ, nhưng chưa một lần dám bày tỏ nỗi niềm. Nghèo không có tội nhưng chàng trai mặc cảm với thân phận nghèo, cố tình lảng tránh cô gái. Biết được ý chàng trai, cô gái rất buồn, tỏ ra khó tính với mọi người trong nhà. Những ngày chàng trai không đến làm, Tầm Xuân vào ra thẩn thờ. Tình yêu như ngọn lửa cháy âm ỷ nhưng quyết liệt, không thể dập tắt nổi trong lòng nàng và chàng. Có lần chàng trai thổ lộ với bố mẹ:
-Con gái nhà ấy yêu con thực lòng. Bố mẹ thử đánh tiếng với bố mẹ cô ấy rằng: con yêu cô Tầm Xuân. Nếu họ chấp thuận thì suốt đời đi làm thuê cho nhà người ta con cũng bằng lòng. Được lấy cô ấy thì dù vất vả mấy con cũng chịu được.
Nghe thế, bố mẹ giãy nảy lên:
-Đừng nghĩ dại thế con ơi! Nhà người ta là dòng dõi cao sang, với không thấu đâu. Họ cười cho thối mũi đấy. Không khéo họ bảo nhà mình dở hơi, đũa mốc dám chòi mâm son thì bẽ mặt lắm…
Bố mẹ nói đúng. Chàng trai thở dài, buồn cho thân phận, nghĩ thương bố mẹ nghèo. Từ đó cậu ta không nhắc đến chuyện yêu đương nữa. Hàng ngày làm thuê, chàng cố lãng tránh những cái nhìn âu yếm của Tầm Xuân. Nhưng tình yêu không dễ dàng đoạn tuyệt. Ai đã dính vào chuyện yêu đương sẽ thấu rõ điều ấy. Hàng ngày được nhìn thấy nhau, cả hai đều thấy lòng ấm áp.
Người nghèo là số đông.Người nghèo cũng có thú vui riêng. Đêm đến, con trai con gái trong làng tụ tập hò hát, đối đáp tận khuya. Trong đám nam nữ đó có cả chàng trai mà Tầm Xuân yêu thương. Những lời đối đáp cất lên thật quyến rũ. Tầm Xuân thường nấp từ xa để ngắm chàng và xem những cuộc hò hát nam nữ rộn ràng như thế. Chàng nổi bật hẳn so với đám con trai, khiến Tầm Xuân lặng nhìn, khao khát. Bên nam cất giọng hò đầy vẻ nuối tiếc:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay…
Bên nữ hò đáp lại đầy vẻ trách móc:
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lòng như cá cắn câu.
Bên nam cũng không vừa, xui bên nữ:
Lỡ cắn câu giật cần mà lủi
Bị nhốt rồi, phá cũi mà bay.
Bên nữ đáp lại nghe giọng buồn buồn:
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra?
Bên nam biết bị đuối lý đành thông cảm. Có mấy anh không chịu, hăng hái buông lời trêu ghẹo mấy em chưa chồng:
Người về ta dặn người rằng
Đâu hơn người kết, đâu bằng đợi ta.
Anh về thưa với mẹ cha
Sắm sanh lễ vật tới nhà em chơi…
Bên nữ cũng không vừa, nhưng các cô không muốn bên nam buồn nên đáp lại có ý trêu đùa:
Trăm năm bậc cũ lở rồi
Đò đưa bến khác, bạn ngồi đợi ai?
Thôi về cuốc đất trồng khoai
Chờ ai khôn lớn cùng ai hẹn hò
Có cần,“ chị” mối giúp cho…?
Chắc là bên nữ có thầy bày nên sáng tác lời đối đáp rất nhanh, nghe chan chát, rất phù hợp với hoàn cảnh? Bọn con gái đối đáp xong, khoái chí ôm nhau reo cười, chờ mãi mà không nghe câu đối đáp của cánh con trai. Biết bọn con gái nói đểu, nhưng đám con trai không đáp lại, vì sợ các “chị” cao tay hơn nên im lặng cho qua, thể hiện đàn ông quân tử, không thèm chấp chuyện nhỏ nhặt với chị em.
Trong những cuộc vui như vậy, hai bên đều vỗ tay tán thưởng, cổ vũ lẫn nhau, đúng là anh hát em khen, ai chen vô lọt? Tự dưng, Tầm Xuân ao ước mình là con nhà nghèo để được tự do vui chơi thỏa thích, vô tư như những nam thanh nữ tú trong làng. Bao nhiêu lần được nghe những câu hát như thế cũng không chán, Tầm Xuân thuộc làu như người trong cuộc. Cái nụ tầm xuân trong bài ca dao đối đáp kia không biết có liên quan gì đến Tầm Xuân hay không nhưng sao cô cứ thấy ám ảnh tâm trí như người nghiện, bâng khuâng mỗi khi được nghe câu hát, nhất là từ khi biết thế nào là tình yêu? Nhưng trong chế độ cũ: “Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy” thì khó có chuyện trai gái tự do yêu nhau rồi đi đến hôn nhân. Đối với con nhà giàu khi dựng vợ gã chồng thì phải “môn đăng hộ đối” mới được chấp thuận. Nhưng không ít cặp trai gái vẫn tìm cách vượt rào, chịu mọi tai tiếng, bị gia đình đánh mắng để đến với nhau, rồi nên duyên chồng vợ. Không ít cặp phải trốn nhà, đi sống nơi khác để được ở bên nhau.
*
*   *
Năm ấy “giặc cỏ” nổi loạn khắp nơi chống lại triều đình, đánh phá kho lương thực để lấy thóc chia cho dân nghèo, tỏ thái độ phản đối nhà vua quan liêu để quan lại địa phương lộng quyền tăng thuế, tham nhũng, làm dân đói khổ. Nhà vua khẩn cấp xuống lệnh tuyển chọn trai tráng đi dẹp loạn. Chàng trai bị sức vào lính và cấp tốc theo đoàn quân lên đường. Chàng ra đi mà lòng cứ bứt rứt không yên, tâm trạng hướng về nơi xóm nhỏ. Ở đó có cô gái thầm yêu trộm nhớ mà trước khi lên đường, chàng không kịp một lời hẹn ước. Tuy vậy, trong lòng của chàng, Tầm Xuân mãi mãi là hình bóng đợi chờ, là nổi niềm khắc khoải khôn nguôi. Sau khi dẹp tan giặc cỏ, đoàn quân tiếp tục nhận lệnh của triều đình đến vùng biên ải để chặn giặc ngoại bang đang lăm le bờ cõi. Thế là chàng trai đành biền biệt xa quê, không hẹn ngày trở lại. Thuở ấy, đàn ông đi vào cơn binh loạn thì chuyện trở về thật lắm gian nan. Chuyện sống chết nơi chân trời góc bể của người lính xông pha trận mạc ám ảnh bao gia đình ở chốn quê xa lắc xa lơ, mòn mỏi chờ tin con năm này qua năm khác. Gia đình chàng trai ngày ngày vẫn đi làm thuê cho nhà Tầm Xuân. Cô gái coi bố mẹ của chàng như là người ruột thịt nhưng không dám hé lộ tình cảm. Cô mong ước chàng trai trở về để cô nói với bố mẹ cho cô kết duyên cùng chàng, dù bố mẹ đánh mắng cũng mặc. Nếu bố mẹ không đồng ý, cô sẽ trốn theo chàng. Càng ngày, cô gái càng xinh đẹp rực rỡ như bông hoa đồng nội đến kỳ khoe sắc, làm cho nhiều thanh niên khát khao, thèm muốn. Sắc đẹp của Tầm Xuân đã được nhiều gia đình kén dâu nhòm ngó tới.

Rồi một hôm…
Có lẽ đó là cái ngày định mệnh khắc nghiệt của cô gái. Cả nhà Tầm Xuân đang nghỉ trưa thì có một đoàn người sang trọng đi xe ngựa có lộng che từ xa đến. Họ vào thẳng nhà. Có cả Lý trưởng cũng ở trong đoàn người ấy. Không để chủ nhà kịp suy nghĩ, một phụ nữ (có lẽ bà mối) vừa chỉ vào các thứ đồ lễ vừa vào thẳng vấn đề:
-Ông bà có đứa con gái tên là Tầm Xuân đã đến tuổi lấy chồng. Gia đình chúng tôi cất công tới đây để đặt vấn đề với gia đình ông bà cho đứa con trai chúng tôi làm rể. Đây là lễ vật giao ước, ông bà nhận cho.
Tầm Xuân nằm trong buồng như bị điện giật khi nghe câu chuyện giữa bố mẹ và những người lạ kia. Thì ra, đó là một gia đình quyền thế trên Phủ. Họ có quyền, có tiền thì thích làm gì mà chả được? Bố mẹ Tầm Xuân ở vào thế bị động, không dám trái lời họ. Việc sắp đặt của hai gia đình thế là xong, có cả Lý trưởng thay mặt chính quyền địa phương chứng kiến. Người đàn bà lúc nãy còn nói:
-Gia đình chúng tôi đã định, đúng mười ngày nữa là làm lễ cưới. Mọi chuyện chúng tôi đã tính kỹ rồi. Xin ông bà lưu ý cho.
Họ đưa gia đình Tầm Xuân vào thế đã rồi, buộc phải chấp nhận. Đoàn người đi rồi, để lại cho cả nhà một không khí nặng nề, ngột ngạt. Nghe đâu thằng con trai của nhà ấy hơn Tầm Xuân một giáp, không được khôn như những thanh niên khác. Có người bảo thằng ấy bị bệnh tâm thần, chạy chữa khắp nơi không khỏi, nhưng lúc tỉnh táo thì cứ đòi bố mẹ hỏi vợ cho nó, mà phải chọn cô thật đẹp cơ. Nó thích lấy vợ thì tìm đám khác, trên Phủ thiếu gì, sao lại nhằm đúng vào người con gái đẹp nhất của xã này? Tầm Xuân buồn bã, nằm khóc mấy ngày, không chịu cơm nước gì cả, bố mẹ dỗ dành,  động viên mãi nó cũng không chịu nghe. Nhớ đến chàng trai đang ngoài biên ải, Tầm Xuân ruột rối như tơ. Đau lòng lắm. Không lấy được chàng trai mà nàng đã trót yêu thì đời này, kiếp này, nàng sẽ không yêu ai cả.
Chỉ còn vài ngày nữa là bên nhà trai đến đón cô dâu. Đã tới nước này rồi, nàng không còn tiếc thân mình nữa. Chế độ hà khắc, tàn nhẫn không để cho con người tự do lựa chọn hạnh phúc lứa đôi, không được định đoạt vận mệnh của mình thì hy vọng gì cho mệt. Trong đầu Tầm Xuân lóe lên những suy nghĩ cay đắng ấy. Và nàng quyết định táo bạo theo suy nghĩ riêng của mình…
Đêm không trăng. Chỉ có sao trời dày đặc, nhấp nha nhấp nháy như đùa nghịch. Quang cảnh này rất hợp cho trai gái đang yêu. Tầm Xuân chả còn bụng dạ nào mà để ý đến cảnh vật xung quanh. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”. Cô vận bộ quần áo lụa mới may, đẹp nhất cùng với bọc khăn gói và số tiền dành dụm được bấy lâu, lặng lẽ trốn khỏi nhà. Mấy con chó dữ quen hơi chủ nên ngoắt đuôi mừng, không một tiếng sủa. Cả nhà ngủ say. Nàng đến bên bờ sông, một mình thui thủi ngồi khóc, thầm gọi tên chàng trai, hai vạt áo ướt đầm. Lúc ấy chừng đã canh ba. Trong xóm có tiếng gà lúc gần lúc xa, nghe buồn rười rượi. Cả một vùng sông nước mênh mang, yên tĩnh đến rợn người. Hôm nay sao không có một chiếc đò xuôi ngược? Tiếng ếch nhái, tiếng côn trùng tấu lên bản nhạc vang âm, vui tai của đồng đất quê hương, sao hôm nay nghe thật não lòng? Mùi bùn từ ruộng bốc lên hăng hắc, quen thuộc, cứ phảng phất như quấn chặt lấy hồn người. Vùng đồng bằng về đêm thật quyến rủ. Chỉ vài ngày nữa sẽ về làm dâu nhà người, sống với một gã đàn ông ngố, dở dở ương ương gọi là chồng ư? Phận con gái sao mà phũ phàng, bèo bọt thế? Sinh ra phận hồng nhan ở chế độ phong kiến là một kiếp nạn hẩm hiu. Sống thế, chẳng khác chi con vật, nhục lắm. Ban đầu, nàng có ý định trốn thật xa về miệt cuối dòng sông để lánh “nạn” ép duyên như một số cô gái đã từng làm, sau đó sẽ tính đến một cuộc sống khác, để có dịp tìm gặp lại người yêu. Nhưng hoàn cảnh không chiều theo suy nghĩ của nàng. Thời gian thật gấp gáp. Dòng sông êm đềm trước mặt như thấu hiểu tâm trạng chán chường của cô gái. Vẫn không có một chiếc đò nào trong đêm thanh vắng. Không còn chần chừ được nữa. “ Một liều, ba bảy cũng liều…”. Tầm Xuân buộc chặt gói tay nải vào người, lao mình vào dòng nước mát lạnh, vĩnh biệt chốn trần gian khổ đau nhất của buổi đầu đời cay đắng, phủ phàng. Thôi, Vĩnh biệt gia đình, vĩnh biệt người yêu…Vĩnh biệt!.
*
*   *
Gia đình cùng người thân đau đớn tỏa đi tìm nhưng tin tức về Tầm Xuân vẫn bặt vô âm tính. Người ta tìm dọc sông, vớt được một xác chết trôi nhưng không phải Tầm Xuân. Ai cũng xót thương cô gái đẹp người đẹp nết nhưng xấu số, bạc mệnh. Người ta nghĩ cô gái đã nhảy sông tự tử nhưng có lẽ mắc kẹt vào hốc đá hoặc hang sâu nên xác không nổi lên. Bàn thờ con gái được bố mẹ lập để hương khói, lấy ngày Tầm Xuân mất tích làm ngày giỗ. Từ ngày ấy, bố mẹ khổ đau, gia đình làm ăn sa sút. Lý trưởng bực bội vì bị vị quan Phủ quở trách chuyện để cho cô gái sắp làm dâu nhà họ biến mất. Gia đình của Tầm Xuân không được Lý trưởng che chở, bảo vệ như hồi nào. Đau đớn vì mất đứa con gái yêu, mặt khác bị quan địa phương ghẻ lạnh, o ép, bố mẹ của Tầm Xuân không còn ngóc dậy được, mọi sự mất mát, thua thiệt cứ kéo đến từng ngày bao trùm lên gia đình vốn một thời giàu có. Hai ông bà đã già, nay lại chịu cú sốc quá lớn nên đổ bệnh, rồi lần lượt qua đời. Con cái của họ cũng làm ăn xuống dốc…
*
*   *
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ biên ải, vì có tài và có công lao với triều đình, chàng trai được cất nhắc làm quan đứng đầu một Phủ ở một miền quê khác. Trước khi đến nhậm chức ở địa bàn mới, chàng cùng đoàn tùy tùng về quê thăm gia đình, làng xóm, tìm gặp Tầm Xuân. Một dòng sông rộng chắn ngang, khách phải qua đò. Lúc ấy trời đã sâm sẩm tối. Cả quan và lính dừng lại nghỉ ngơi đợi đò. Ở bên bến sông là một khu đất rộng, có quán ăn, quán nước. Khách qua đò thường vào quán ăn uống, tụ tập trong những lều bạt để đánh bạc, nghe hát xẩm. Ban ngày, bến sông rất náo nhiệt. Trời sắp tối nên khách cũng vãn. Lúc này có một đám hát đang phục vụ những người đợi đò. Đám hát cả nam lẫn nữ chừng năm, sáu người, có cả trẻ con. Lúc đầu, chàng không chú ý lắm. Tâm trạng của chàng muốn về nhà càng nhanh càng tốt. Nhưng đến khi nghe cô gái cất giọng bài “Nụ tầm xuân” theo lối hát sẩm thì chàng trai giật mình. Bài hát này, chàng cùng các bạn đã từng hát đối đáp hồi còn ở nhà, sao ở đây cũng có, không sai một từ?. Nhưng hôm nay, giọng hát nghe buồn bã, chỉ một cô gái hát từ đầu đến cuối, tự mình đối đáp, không có giọng nam. Người nghe rất cảm động. Có người đề nghị hát lại. Cô gái vẫn chiều lòng khách.
…Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không…?
Tiếng hát như cứa vào lòng chàng trai, gợi về kỷ niệm giữa chàng với cô gái ở quê. Lời bài hát láy đi láy lại theo lối hát sẩm như nổi niềm thổn thức của người hát thầm nói với bạn tình.
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lòng như cá cắn câu…
Chỉ có ai trong cuộc mới thấm thía điều ấy. Lời bài hát hay tâm trạng cô gái? Chàng trai bỗng nôn nao nhớ Tầm Xuân vô hạn. Lần này chàng phải gặp nàng, nếu nàng chưa có chốn có nơi thì xin được lấy nàng làm vợ, không thể bỏ lỡ cơ hội. Địa vị của chàng nay đã khác. Chàng lấy tiền đưa anh lính đem bỏ vào cái tô sành cạnh người hát. Có một đứa nhỏ chừng 3 tuổi ngồi sau lưng cô gái, chắc là con của nàng. Sao tiếng cô gái nghe quen quen và gần gủi lạ? Chàng ngờ ngợ, nhìn chăm chăm về phía người hát. Trời nhá nhem, không thấy rõ mặt cô gái. Nhưng chàng trai đâu ngờ, mọi cử chỉ của chàng không qua được mắt nàng. Chàng đứng lên để đi đến phía người hát.
Vừa lúc đó thì đò đã ghé bờ. Chàng trai cùng đoàn tùy tùng vội vã xuống đò.  Tiếng hát của cô gái vẫn cất lên, bám theo, như thầm nhắn gửi một điều gì da diết với chàng:
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ?
Chim vào lồng biết thuở nào ra?…
Lời ca nhỏ dần… nhỏ dần rồi mất hút. Con đò mỗi lúc một xa bờ, chìm vào hoàng hôn, sương lạnh…
Chốn quê của chàng cũng chả có gì thay đổi. Cuộc sống vẫn bình lặng như thuở chàng ra đi. Nắng mưa đã làm cho những ngôi nhà mái rạ thêm phạc phờ, ảm đạm hơn. Những gì xẩy ra trong nhiều năm qua, nghe xóm làng kể lại làm chàng đau lòng. Gia đình Tầm Xuân không còn thịnh vượng như hồi nào. Bố mẹ Tầm Xuân không còn nữa. Khi tìm hiểu, chàng trai mới vở lẽ mọi chuyện. Thì ra, vì chàng mà Tầm Xuân đã quyên sinh. Chàng rất đau đớn và quyết đi tìm người mình yêu dấu…
*
*   *
… Tầm Xuân trẫm mình trôi theo dòng sông, nhưng đến một ngã ba, bất ngờ một cơn lốc xoáy đẩy cái xác rẽ vào một con mương rộng. Không hiểu sao, cái xác không chìm. Có một ông già chăn vịt phát hiện thấy có người trôi bập bềnh liền vớt lên, đem vào lán để cứu chữa. Gói quần áo trên người cô gái vẫn còn. Cũng may, hôm  ấy thằng con của ông chưa đi thả lưới. Hai cha con dốc ngược cô gái lên cho ộc nước ra và làm hô hấp, đốt lửa sưởi nên cô gái dần dần tỉnh lại. Theo lời đề nghị của cô gái, hai cha con giấu biệt chuyện cô bị ép duyên nên tự tử. Sau một thời gian được gia đình người chăn vịt chăm sóc, cô khỏe lại. Từ lúc ấy, cô trở thành con cái trong nhà. Hàng ngày, cô nấu ăn, giặt giũ, phụ việc với gia đình. Bố con người chăn vịt thì thì đơm nò tôm, kéo lưới để kiếm cá đem ra chợ bán. Con trai của người chăn vịt rất hiền hậu, khỏe mạnh nhưng nghèo nên chưa lấy được vợ. Cô gái dạt vào đây, âu cũng là duyên số ông trời đưa đẩy? Tầm Xuân chấp nhận làm vợ của anh ta. Có lẽ đó là cơ duyên trời định? Cái nghề chăn vịt cũng bị bọn cường quyền chèn ép. Chăn vịt cánh đồng nào là phải cống nộp cho bọn Lý trưởng, Hương thôn ở vùng ấy, nếu không thì chúng cho người đuổi đi hoặc tịch thu vịt. Cả nhà phải bán hết vịt, giải nghệ, làm nghề hát rong là ăn chắc nhất, chả cần vốn liếng. Nhờ nghề hát rong mà cả nhà đỡ hẳn, thu nhập khá lên, không bị nộp thuế. Đứa con dâu đẹp người, có giọng hát hay, mẹ chồng và em gái chồng cũng biết hát xẩm, còn bố chồng hồi trai tráng đã biết đánh nhị, gõ phách nên gánh hát rất ăn khách, đến đâu cũng được mời đón. Tầm Xuân đã sinh được đứa con trai. Hôm ở bến đò ấy, Tầm Xuân cùng gia đình hát cho mọi người nghe lần cuối để rồi âm thầm chào tạm biệt bến đò những tháng năm gắn bó thân thuộc, ngày mai lên mạn ngược, chọn nơi lập nghiệp ở một vùng giáp biên giới, bỏ nghề hát rong. Có lẽ trời xui đất khiến, hôm ấy nàng may mắn thấy lại người yêu sau nhiều năm xa cách, để rồi mãi mãi mất nhau. Nàng đã sang ngang, chuyện tình xưa phải gạt khỏi tâm trí. Đã là số kiếp thì phải nhận lấy, dù buồn phiền cũng chớ kêu ca.
*
*   *
Sau những ngày về thăm quê để chuẩn bị cho một chuyến đi dài, chàng trai đã hiểu ra tất cả. Chàng ngờ ngợ về Tầm Xuân hôm ở bến sông và vội vã đi tìm. Khi hỏi những gia đình xung quanh bến sông thì ai cũng nói rằng: Người hát ấy chính là cô Tầm Xuân ở nơi xa đến từ mấy năm nay. Có người còn tiết lộ thân phận của cô gái cho chàng nghe. Ai cũng khen cô gái có nét đẹp đoan trang mà gặp cảnh trớ trêu nên phải chịu kiếp nạn hồng nhan. Khi chàng trai đến thì cả nhà cô gái đã giã biệt bến sông ngay sau đêm hát cuối cùng ấy. Họ đi đâu, chả ai biết. Mọi người luyến tiếc vì từ nay không còn được nghe Tầm Xuân hát nữa. Bài “nụ tầm xuân” phải chính Tầm Xuân hát mới da diết lòng người. Ai có hoàn cảnh và tâm trạng như Tầm Xuân mà nghe bài hát ấy cũng nức nở con tim…
Chàng trai vô cùng đau khổ. Thế là hết! Biết tìm em ở đâu? Sống mà không tìm gặp được nhau, có gì đau đớn bằng? Chàng thẩn thờ ra bến sông giống kẻ mất hồn. Như còn vọng lại đâu đây dư âm của bài ca dao mà lần cuối cùng Tầm Xuân đã kịp hát cho người yêu nghe, gửi tâm trạng u uất vào sông nước, trải tất cả nổi niềm xót xa tràn ngập hoàng hôn, khói sương mờ ảo:
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra…?

Đã mấy lần chàng trai cất công đi tìm cô gái nhưng đều vô hiệu. Những nơi chàng đến đều nghe trai gái hát về nụ tầm xuân, còn Tầm Xuân bằng xương bằng thịt của chàng chẳng biết ở phương nào?. Hỏi cô gái có tên Tầm Xuân, chả ai biết. Thật kỳ lạ.
Khi đến miền quê mới, gia đình Tầm Xuân vỡ đất trồng rừng, trồng các loại cây ăn quả và thảo dược, gắn bó với miền sơn cước. Do yêu ca hát, Tầm Xuân lập một đội văn nghệ, dạy mọi người hát xoan, hát xẩm. Nàng truyền lại cho đội văn nghệ những bài hát về tình yêu nam nữ bắt nguồn từ ca dao mà nàng thuộc lòng, được mọi người say mê, nhất là trai gái đang yêu. Những bài ca ấy như có cánh bay xa, xa mãi và tồn tại cùng năm tháng.
...Sau này, đâu đâu cũng thấy lưu truyền nhiều bài ca dao về tình yêu nam nữ. Nhưng bài ca dao “nụ tầm xuân” được chú ý hơn cả. Mỗi vùng quê có một cách biểu cảm riêng về bài ca dao trữ tình đó. “Nụ tầm xuân” lưu truyền trong dân gian, đi vào trang sách học trò, khiến cho bao thế hệ nao lòng về tình duyên trắc trở mà những nàng, những chàng phải gánh nỗi đa đoan, để cho người đời tốn nhiều giấy mực thổn thức về những cuộc tình dang dở ngày xưa, man mác nỗi buồn nhân ảnh chốn hồng trần - sinh -li - xa xót. Lời ca dao xưa vẫn còn ngân vọng mãi:
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay…

    

VỀ QUÊ NỘI


                                                                                                            Thơ: Lê Nguyên Hồng

          Anh cùng em về thăm quê nội
          Tìm lại dáng xưa lem luốc thơ ngây
          Vô tư quá để bây giờ tiếc nuối
          Tháng năm ơi! Mưa nắng vơi đầy

          Thời gian xanh như dòng sông mải miết
          Gội tóc mẹ mòn bạc lẫn mây trôi
          Con lặng lẽ bên gốc chè, gốc mít
          Chợ sớm, chợ hôm, thời trẻ mẹ đâu rồi?

          Nhớ thuở đói nghèo tháng Ba ngày Tám
          Nếp nhà tranh đạm bạc bữa cơm chiều
          Mắt mẹ quầng sâu, ngọn đèn mờ tỏ
          Con như cây thầm lặng thấm bao điều

          Anh cùng em về thăm quê nội
          Tìm lại tuổi thơ trong nắng trong mưa
          Đâu lối cũ bước chân trần đến lớp
          Cánh diều xa…nhức nhối ước mơ…

          Nơi anh đã lớn lên và xa cách
          Có nước giếng Trùm* tắm mát tuổi thơ
          Có Rú Lịnh* vui bạn bè hái củi
          Và rờm* sim còn ngọt đến bây giờ

          Gặp lại quê hương sao lòng bỡ ngỡ
          Nếp nhà tranh thành dĩ vãng lâu rối
          Tiếng xe máy theo người ra ruộng
          Ngọn đèn dầu thành cổ tích xa xôi

          Bạn bè ơi! Mỗi đứa một nơi
          Có nhớ thuở quần đùi, áo vá
          Có nhớ không, quê nghèo dạo đó
          Bữa đói bữa no nuôi ta lớn nên người?

          Anh chợt hiểu cuộc đời cay nghiệt quá
          Chỉ có cỏ vô tư trên mộ người thân
          Dáng mẹ cha quá chiều bóng ngả
          Chẳng níu kéo nào sao nặng trĩu bàn chân?

          Cứ mỗi lần về thăm quê nội
          Về với chốn xưa gốc rễ sinh thành
          Về với buổi đầu đời nông nổi
          Bỗng giật mình, mái tóc chẳng còn xanh…

                                                                             Vĩnh Hiền, tháng 6 – 2003

*Giếng Trùm: tên một cái giếng làng ngày xưa ở trong Rú Lịnh
*Rú Lịnh: Là một cánh rừng nguyên sinh còn lại vắt qua giữa 2 xã Vĩnh Hiền-Vĩnh Hòa (huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị)
*Rờm: tiếng địa phương, tức là đồi.

                                                

NHỚ THÁI BÌNH

                                                                         (Nhớ về xã Đồng Tiến, huyện Phụ Dực(nay là Quỳnh Phụ), tỉnh Thái Bình trong những năm sơ tán 1967-1973, là học sinh K8 Vĩnh Linh)

Thơ:Lê Nguyên Hồng

Tuổi thơ tôi ở đó
Sáu năm ròng xa quê
Chiến tranh đã qua đi
Đọng trái tim nổi nhớ

Con đường quen - lối ngõ
Ngôi nhà rạ ánh đèn,
Bậc cầu thang xuống lên
Hàng cau soi bóng nước
Cây bồng sai quả ngọt
Dáng chị ngày chia tay
Mộ bà khói hương bay
Gương mặt người quen lạ...
Thầy cô và bè bạn
Tới trường vòng sân đình
Cây gạo ngút trời xanh
Mỏi cổ thèm hoa đỏ
Trưa hè nung nắng lửa
Đánh dậm vui đồng xa
Tiếng sáo diều vi vu
Say lả chùm phượng vĩ
Mùa cói quên giấc ngủ
Trăng tròn bên bờ tre...

Quen rồi lại chia xa
Day dứt lòng khôn tả
Nhớ Thái Bình! Nhớ quá
Đa mang lòng đôi quê
Thương nhớ hoài theo đi
Trái tim nồng ngọn lửa

Bâng khuâng hoài tuổi nhỏ
Ơn sâu nghĩa tình sâu!
                                                L N H

                            
                                     


BÁC HỒ VỚI VĨNH LINH

Bút ký: Lê Nguyên Hồng

                             Bác Hồ ơi!
                   Chúng cháu hằng mong ước
                   Đến bao giờ được đón Bác
                   Đường vào Nam, Bác dừng lại Vĩnh Linh
                   Giữa cầu Bảy nhịp sông Hiền…
          Câu thơ ấy của một tác giả Vĩnh Linh viết trong những ngày trời đất tuôn mưa khóc tiễn Bác vào tháng 9 năm 1969. Đây là tình cảm  của nhân dân Vĩnh Linh đối với vị Cha già dân tộc. Bác đi vào cõi vĩnh hằng để lại cho đồng bào, cán bộ, chiến sỹ Vĩnh Linh niềm nhớ mong quặn thắt. Sông nước Hiền Lương nặng lòng khắc khoải, mong dấu chân người dẫu chỉ một lần thôi.
          Vĩnh Linh, mảnh đất Máu và Hoa, nơi tuyến đầu miền Bắc XHCN, là nỗi nhớ nhung, sự quan tâm đau đáu của Người. Lúc sinh thời, mảnh đất này 3 lần lặng lẽ nâng bước Người qua. Đó là những lần Người cùng gia đình vào Huế ở tuổi mười tám, đôi mươi mà sử sách ghi nhận. Những năm chống Mỹ ác liệt, mỗi tên đất, tên làng, tên người Vĩnh Linh, Bác đều nhớ rành rọt. Một địa đạo ở xã Vĩnh Quang bị bom Mỹ đánh sập, trêm 60 người chết thảm, Bác lau nước mắt. Các em nhỏ Vĩnh Linh sơ tán ra các tỉnh miền Bắc bị bom Mỹ giết hại dọc đường đi, Bác khóc. Bao nhiêu cán bộ, chiến sỹ Vĩnh Linh ra Hà Nội gặp Bác, nghe Bác hỏi thăm từng chi tiết nhỏ trong cuộc sống đời thường mà cứ ngỡ như Bác đang sống giữa Vĩnh Linh. Đất nước cắt chia, dòng sông Hiền Lương là nỗi niềm thổn thức canh cánh trong lòng Bác. Vĩnh Linh, nơi có nhịp cầu Hiền Lương bên thương bên nhớ chính là nơi đọng lại trong niềm thao thức sâu thẳm của Người. Tình cảm bao la của Bác dành cho cả nước nhưng với Vĩnh Linh được Bác quan tâm ưu ái đặc biệt. Ngày 16 tháng 6 năm 1967, khi vào thăm Quảng Bình nhưng chưa thể vào Vĩnh Linh được, Bác nhắc lại với cán bộ Vĩnh Linh có mặt ở cuộc gặp gỡ đó: “ Vì xe không đến được, mà Bác chưa có điều kiện vào thăm…”. Trước gần 3 vạn đồng bào Quảng Bình và Khu vực Vĩnh Linh có mặt tại thị xã Đồng Hới, Bác chỉ rõ: “ Quảng Bình, Vĩnh Linh ở tuyến đầu miền Bắc, tiếp giáp với miền Nam, mọi việc làm tốt hay xấu của các cô, các chú ở đây đều có ảnh hưởng nhất định đến Cách mạng miền Nam, đều có ý nghĩa đến việc bảo vệ miền Bắc. Nếu kẻ địch có hoạt động liều lĩnh gì thì Quảng Bình, Vĩnh Linh phải đương đầu với chúng trước hết và phải bảo đảm đánh thắng chúng trước hết.”.
          Nhân dân vĩnh Linh chưa được may mắn gặp Bác nhưng sự chăm lo qua lời dạy bảo ấy khiến mọi người càng yêu kính Bác và tự răn mình không làm điều gì phụ lòng mong muốn của Người. Ở Vĩnh Linh, nhiều người vẫn chưa hiểu hết những sự tích ngay chính trên quê hương của mình, thế nhưng Bác lại hiểu một cách tường tận. Ngay những câu hát dân gian, những câu ca dao người Vĩnh Linh hát cho Bác nghe, Bác còn chỉ bảo những chỗ chưa đúng, chưa hay. Có một lần, Bác hỏi đồng chí Hồ Sỹ Thản: “ Vì sao nơi rừng rậm trên đường số Một ở vĩnh Linh gọi là Truông nhà Hồ hở chú?”. Không đợi trả lời, Bác mim cười giải thích luôn: “ Chỗ ấy ngày xưa lắm trộm cướp nhưng ngày nay chỗ ấy đang xây dựng CNXH. Ở đó chưa ăn ngon mặc đẹp nhưng cũng đã no đủ…”. Đồng chí Phan Văn Toàn, bí thư Đảng ủy xã Vĩnh Kim được gặp Bác, kể lại rằng: Ngày 16 tháng Tư năm 1959, giữa hội trường Hà Nội đông người, bỗng Bác gọi to: “ Chú Toàn Vĩnh Linh có đây chưa?”. Tiếp theo, Bác hỏi thăm sức khỏe các cụ già, cháu nhỏ, hỏi cặn kẽ từng bữa ăn, giấc ngủ của bà con Vĩnh Linh. Biết Xã Vĩnh Kim ruộng ít, đất nhiều, Bác dặn: “ Các chú phải tích cực trồng màu, nhất là khoai sắn, lúa ít phải có màu, hai chân đo cho thật vững vàng”. Bác còn dặn tỷ mỷ: “ Nhưng mọi việc phải dân chủ, đừng làm một mình Bí thư mà sai đấy. Chú về nói với bà con Bác khỏe, đồng bào đồng chí cố gắng thêm nữa để Bác khỏe thêm”. Xã Vĩnh Kim là nơi vất vả khó nghèo, nơi bắt nguồn câu ca dao chua chat “ăn cơm bữa diếp” (tức là 3 ngày mới có một bữa cơm, còn lại chủ yếu khoai sắn) vẫn kiên trung xây dựng cuộc sống nông thôn mới. Chính vì thế, Bác tặng Vĩnh Kim chiếc máy cày mà nước nước bạn tặng Bác trong chuyến đi thăm các nước Xã Hội Chủ Nghĩa sau cuộc kháng chiên chống Pháp thắng lợi. Tình thương của Bác như một người cha đầy lòng nhân ái, bao dung. Khi đồng chí Hồ Ray, người dân tộc Vân Kiều ở Vĩnh Linh được gặp Bác, bác căn dặn: “ Muốn khôn phải học văn hóa, muốn đỡ khổ phải định canh định cư”. Đòng bào Vân Kiều mang họ Bác, gọi Bác là Cha và đã làm đúng lời Bác dạy. Bác không đến được với đồng bào Vân Kiều nhưng tình Bác vẫn tỏa đến tận từng bản, làng, từng nếp nhà sàn giữa núi rừng đèo cao heo hút. Năm 1960, đồng chí Nguyễn Thanh Bình (sau này là Ủy viên Bộ chính Trị) được Bác ủy nhiệm đưa quà của Bác đến tặng cho đồng bào Vân Kiều Vĩnh Linh. Các già làng đã triệu tập dân bản mình đứng trước ảnh Bác Hồ và nói lời trang nghiêm: “ Cụ Hồ là vị Thánh. Đồng bào ta phải mang ơn Cụ dài lâu như con suối, cây rừng của chúng ta”.
          Nỗi buồn vui của Bác được bắt nguồn từ nhân dân. Mỗi chieeens công, mỗi khó khăn ở Vĩnh Linh, Bác đều trăn trở. Đọc báo Thống Nhất Vĩnh Linh, thấy có gương người tốt, việc tốt, Bác gửi thư khen và tặng Huy hiệu của Người. Đồng chí Dương Tốn, Chủ tịch ủy ban hành chính Khu vực Vĩnh Linh kể lại: Năm 1966 được ra Hà Nội gặp bác, Bác hỏi ngay:
- Ở Vĩnh Linh có phải đồng bào đủ ăn và thừa khoai sắn không?
-Dạ thưa Bác đúng ạ.
Bác tươi cười nhưng vẫn dặn:
-Các cô, các chú làm cách mạng phải lo cho cái dạ dày của đồng bào, vì dạ dày của mọi người mà lỏng lẻo thì không thể đánh giặc được và không làm được việc gì cả…
Gặp người Vĩnh Linh dù chỉ một lần, Bác nhớ mãi. Năm 1968, đồng chí Dương Tốn lại ra Hà Nội gặp Bác để báo cáo tình hình Vĩnh Linh. Bác cười trìu mến: “Tưởng ai mô xa lạ, chứ khách này quen rồi”. Nói xong, Bác lặng đi vài giây vì xúc động, ánh mắt nhìn vời vợi về phương Nam. Khi nghe đồng chí Dương Tốn báo cáo về tình hình địch dung mọi phương tiện chiến tranh để hủy diệt Vĩnh Linh,  Bác chống tay lên trán đăm chiêu. Khoảnh khắc ấy trông Bác già hẳn, trán hằn nếp nhăn. Khi nghe đến đoạn nói về Vĩnh Linh vẫn vững vàng trong đạn lửa, đồng bào vẫn hăng hái đi dưới giao thông hào ra đồng sản xuất, tổ chức đời sống tốt, xuất hiện nhiều gương sáng trong chiến đấu,  lao động, Bác phấn khởi vô cùng. Bác bảo đồng chí Dương Tốn kể tỷ mỉ về sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dưới hầm chữ A, trong lòng địa đạo, về sức khỏe của các cụ già, cháu nhỏ, chị em phụ nữ. Khi nghe kể về cuộc sống gian khổ nhưng cực kỳ oanh liệt của Vĩnh Linh, Bác im lặng suy tư. Bác nghĩ tới thực tại cả Vĩnh Linh lúc bấy giờ bao nhiêu gia đình tan nát, mất mát , tang tóc, nhiều vành khăn tang chồng lên trên những mái đầu, bao nhiêu hoàn cảnh vợ chồng ly tán…Hình ảnh các em nhỏ, cụ già, phụ nữ bị bom đạn vùi sâu trong lòng địa đạo hoặc bị tàn sát ngay giữa mâm cơm chưa kịp ăn, Bác nghẹn lòng không nói được. Bác nghĩ đến nhiều cháu nhỏ Vĩnh Linh sơ tán ra Miền Bắc bị bom Mỹ giết hại dọc đường đi…Sau một lúc xúc động, Bác lau nước mắt và chỉ thị cho đồng chí Dương Tốn: “ Khu ủy và Ủy ban hành chính Khu vực Vĩnh Linh cần cử người đến thăm các cháu sơ tán đểcác cháu đỡ nhớ”. Vài ngày sau, Bác chỉ thị cho các tỉnh có nuôi con em Vĩnh Linh cần tạo điều kiện động viên, nuôi dạy tốt các cháu. Bác nói rằng: “ Đó là những hạt giống đỏ của quê hương đất thép Anh hùng, cần phải nâng niu như quả trứng hồng”.
Bao nhiêu nỗi đau của dân tộc đều đọng lại trong lòng Bác. Đêm đêm, Bác thao thức nhớ miền Nam, nghĩ về nỗi đau chia cắt mà dòng sông Bến Hải ở Vĩnh Linh như vết thương lòng hằn sâu tim Bác. Từ khi Vĩnh Linh bị giặc Mỹ hủy diệt, gần một trăm phần trăm làng xóm bị bom đạn san bằng, biến thành vùng trắng trước con mắt thần điện tử Mắc Na Ma Ra ở Ba Dốc thuộc bờ Nam sông Bến Hải, Bác đau xót không nguôi. Có người Vĩnh Linh ra gặp Bác thì Người mừng lắm, như gặp lại người thân sau chuỗi ngày mong đợi. Khi Anh hùng Lao động Đinh Như Gia được vinh dự gặp Bác, câu đầu tiên Bác hỏi ngay: “Vụ Vĩnh Quang ra sao rồi?” và Bác khóc. Đồng chí Đinh Như Gia nức nở khoc theo nghẹn ngào. Địa đạo Vĩnh Quang bị bom Mỹ đánh sập, trên sáu mươi người vùi sâu trong lòng đất nhức nhối mãi trái tim người!
          Từng giờ, từng ngày, Vĩnh Linh trông đợi Bác Vào. Tuy Bác không vào được nhưng tình yêu thương bao la của Bác dành trọn vẹn cho cả Vĩnh Linh. Ngày 11 tháng 11 năm 1966, xã Vĩnh Thủy  anh dũng ngoan cường bắn rơi 6 máy bay giặc Mỹ, 3 ngày sau có thư Bác gửi vào khen: “ Bác vui lòng thay mặt Trung Ương Đảng và Chính phủ đặc biệt khen ngợi đồng bào, cán bộ và bộ đội Vĩnh Linh; Các địa phương hãy ra sức thi đua đánh giặc giỏi, thắng lớn như Vĩnh Linh”. Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Vĩnh Linh bắn rơi 2 máy bay B.52, ba ngày sau Bác đã có thư gửi vào khen: “ Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác đặc biệt gửi lời khen ngợi đồng bào, chiến sỹ và cán bộ Vĩnh Linh đã đánh giỏi, đánh trúng, chiến thắng vẻ vang. Vĩnh Linh thật xứng đáng là tiền tuyến Anh hùng của miền Bắc XHCN”. Dù ở xa nhưng lòng  Bác vẫn hướng về Vĩnh Linh, nơi niềm tin của cả nước và bạn bè Quốc tế. Một chiến thắng dù lớn nhỏ Bác đều gửi thư thăm hỏi, chúc mừng. Những cử chỉ ấy đã làm rưng rưng tình cảm, lòng biết ơn vô hạn của nhân dân vùng giới tuyến. Ngày mùng 5 tháng 6 năm 1968, Bác gửi thư khen cán bộ, chiến sỹ đảo Cồn Cỏ bắn rơi 4 máy bay giặc Mỹ: “ Cồn Cỏ xứng đáng là đảo nhỏ Anh hùng.
Cồn Cỏ nở đầy Hoa thắng trận
Đánh cho tan xác giặc Huê Kỳ”.
Ngày 16 tháng 8 năm 1968, Bác lại gửi thư khen ngợi quân và dân Vĩnh Linh bắn rơi chiếc máy bay thứ 200 của giặc mỹ: “ Vĩnh Linh càng đánh càng thắng, càng đánh càng mạnh. Bác tặng vĩnh Linh 2 câu thơ:
          Đánh cho giặc Mỹ tan tành
Năm châu khen ngợi Vĩnh Linh Anh hùng”.
Ngay sau khi giặc Mỹ ngừng ném bom miền Bắc lần thứ nhất, Bác trực tiếp điện vào Vĩnh Linh: “ Để cho đồng bào lên trên một tý nhưng đừng để sơ suất”. Chính những chi tiết cảm động này đã làm cho cả Vĩnh Linh nức nở khi nghe tin Bác qua đời và những ngày đau buồn mang tang Bác. Dù trăm công nghìn việc mà Bác không quên những việc đời thường đối với mỗi vùng đât, mỗi con người, mỗi hoàn cảnh gia đình. Bác chưa một lần dừng chân ở Vĩnh Linh nhưng lòng Bác lúc nào cũng nghĩ tới miền quê đầy máu lửa đang hiên ngang nơi đầu sóng ngọn gió. Quê hương đất đỏ lòng vàng đã sinh ra những con người kiên trung, bất khuất, làm cho không lực Huê Kỳ bàng hoàng kinh hãi. Trong 8 bức thư và điện gửi vào Vĩnh Linh có 2 bức thư Bác dung từ “đặc biệt khen ngợi”. Trong Đại hội Công-Nông-Binh ở Khu vực Vĩnh Linh năm 1968, Bác cử đồng chí Lê Thanh Nghị vào dự và mang theobức ảnh Bác tặng, phía dưới bức ảnh có dòng chữ chính tay Người viết: “ Khuyên cán bộ một lòng một dạ phục vụ nhân dân, chúc đồng bào các dân tộc đoàn kết chặt chẽ, sản xuất, chiến đấu giỏi, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Đó là quà tặng quý giá, thể hiện tình cảm sâu nặng, sự quan tâm ân cần của vị Lãnh Tụ đối với Vĩnh Linh.
Ghi tạc lời Bác dặn, đồng bào, cán bộ, chiến sỹ Vĩnh Linh từ miền ngược đến miền xuôi không ngừng vươn lên trong chiến đấu và xây dựng để đền đáp tấm lòng trời bể của Người; Xứng đáng là tuyến đầu miền Bắc XHCN, hậu phương của miền Nam, góp phần cùng đồng bào, chiến sỹ cả nước đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào, giải phóng hoàn toàn miền Nam, giang sơn thống nhất, đúng như lúc sinh thời Bác hằng mong đợi.
Cứ mỗi lần nghĩ đến Bác, Vĩnh Linh nguyện mãi mãi noi theo đức hy sinh vì nghĩa cả của Bác, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, vượt lên muôn vàn khó khăn gian khổ thời hậu chiến, xây dựng quê hương từ đổ nát hoang tàn trở nên giàu đẹp, văn minh. Càng thương nhớ Bác, các thế hệ ở Vĩnh Linh truyền tụng cho nhau những lời dạy thiêng liêng của Bác. Trong công cuộc xây dựng nông thôn mới hôm nay, Vĩnh Linh đang chuyển mình vươn tới, thực hiện ước mong cao cả mà trọn cuộc đời Người chỉ một lòng vì nước vì dân!

                                                Vĩnh Linh, tháng 5- 1990

Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2013

ĐẤT ĐỎ MÙA MƯA
       Thơ: Lê Nguyên Hồng
Anh có về đất đỏ mùa mưa
Đường lấm láp, bánh xe ghì ngược lại
Đừng giận nhé, xứ sở này là vậy
Đất mến người dù lạ dù quen

Vào mùa mưa anh đến quê em
Nghe đất chuyển trong chồi non bật dậy
Mùa gieo trồng công việc dồn bận mải
Sợi mưa đan ríu rít niềm vui

Mùa hạ đi qua, nắng cháy sườn đồi
Mưa thắm lại nụ cười trong mắt mẹ
Từng giọt rơi nghe ấm lòng đến thế
Ngỡ tiếng đàn nâng khúc nhạc mùa xuân

Giữa mùa mưa anh đến quê em
Mà cứ ngỡ bước chân mình lạc lối
Anh đi giữa đất trời thay áo mới
Triệu chồi non rạo rực trong lòng

                               Vĩnh Hòa, mùa mưa 1983

Thứ Ba, 22 tháng 1, 2013

NHỚ THÁI BÌNH

CON ĐƯỜNG TUỔI THƠ

Như một nét son kẻ vào kỷ niệm
Nối tuổi thơ với mái trường xưa
Ríu rít bạn bè mỗi sớm mỗi trưa
Ôi thân thiết con đường tuổi nhỏ

Con đường thứ nhất với bao điều bỡ ngỡ
Lá rơi đầy, trang sách hóa bức tranh
Trống trường tan...mải đánh đáo, đánh khăng
Nắng đứng bóng tròn mẹ tìm hớt hải
Con đường hằn lên nỗi nhớ
Đường trẻ hoài một thuở sơ sinh.

Đây con đường những đêm hè trăng lên
Mẹ cấy đồng xa bước chân về mải miết
Sương sớm tan trên vai gầy đẫm nước
Cha đi cày thức mặt trời lên
Phút thẩn thờ từ buổi gặp mắt em
Giấc chiêm bao có con đường ẩn hiện...

Tuổi lớn khôn tìm về kỷ niệm
Con đường đi vào lòng như một tên gọi thiêng liêng
Ai từng qua đây và đã lớn lên
Nắng mưa xóa mòn dấu bước
Bao nẻo dọc ngang cuộc đời phía trước
Lối cũ nhạt nhòa theo lãng quên...

Để lại đằng sau nhiều con đường lạ- quen
Có những đoạn đường gập ghềnh gai góc
Có những đoạn đường xuống lên gấp khúc
Đường tuổi thơ liền với chân trời

SUY TƯ TRƯỚC MÙA ĐÔNG



                                                 Thơ: Lê Nguyên Hồng

              



                Mưa cứ rơi như lòng ai thổn thức

                Lá vàng bay mang bao nỗi ưu phiền

                Cây đứng cô đơn như người yêu chờ đợi

                Trước mùa đông sao lòng ta không yên

               

                   Mùa đông dài như nỗi bâng khuâng

                    Cây chuyển nhựa nhọc nhằn nuôi sự sống

                   Hơi gió lạnh gọi tìm tia nắng âm

                   Đâu sắc trời thu trong mắt ai cười ?



                Trước mùa đông buồn lặng lẽ em ơi

                Hoa trong cây vẫn đợi ngày xuân đến

                Chỉ sợ mùa đông giữ trái tim lạnh cóng

                Để khối buồn băng giá không tan !


                                            

TÓC MẸ



                                                    
                                                                      Thơ: Lê Nguyên Hồng
          Mẹ đi làm về
          Nắng rơi đầy tóc
          Gió lùa phơ phất…
                   Con vào nhà trẻ
                   Tóc Mẹ còn xanh
                   Nay con khôn lớn
                   Chi chít sương cành
                   Điểm tràn tóc Mẹ!

          Thời gian lặng lẽ
          Con học con chơi
          Thấm bao mưa nắng
                   Biển rộng…
                                 Sông dài…
          Trọn đời Mẹ khổ
          Hạt lúa, củ khoai
          Trọn đời tần tảo
          Cho con ngày mai!
          Mẹ ơi!
          Mẹ ơi!
          Sương pha đầy tóc
          Xanh thẳm vòm trời
          Lặn vào trán Mẹ
          Bao chuyện buồn – vui…
                   Ngước lên tóc Mẹ
                   Lòng con ngùi ngùi
                   Con vừa biết nghĩ
                   Tóc Mẹ
                             Bạc
                                      Rồi…
          Một quầng mây trắng
          Giữa ngày Xuân
                                      Trôi…
                                                          (Rút trong tập: NẾU MỘT NGÀY KIA…)