Thứ Tư, 30 tháng 1, 2013

BÁC HỒ VỚI VĨNH LINH

Bút ký: Lê Nguyên Hồng

                             Bác Hồ ơi!
                   Chúng cháu hằng mong ước
                   Đến bao giờ được đón Bác
                   Đường vào Nam, Bác dừng lại Vĩnh Linh
                   Giữa cầu Bảy nhịp sông Hiền…
          Câu thơ ấy của một tác giả Vĩnh Linh viết trong những ngày trời đất tuôn mưa khóc tiễn Bác vào tháng 9 năm 1969. Đây là tình cảm  của nhân dân Vĩnh Linh đối với vị Cha già dân tộc. Bác đi vào cõi vĩnh hằng để lại cho đồng bào, cán bộ, chiến sỹ Vĩnh Linh niềm nhớ mong quặn thắt. Sông nước Hiền Lương nặng lòng khắc khoải, mong dấu chân người dẫu chỉ một lần thôi.
          Vĩnh Linh, mảnh đất Máu và Hoa, nơi tuyến đầu miền Bắc XHCN, là nỗi nhớ nhung, sự quan tâm đau đáu của Người. Lúc sinh thời, mảnh đất này 3 lần lặng lẽ nâng bước Người qua. Đó là những lần Người cùng gia đình vào Huế ở tuổi mười tám, đôi mươi mà sử sách ghi nhận. Những năm chống Mỹ ác liệt, mỗi tên đất, tên làng, tên người Vĩnh Linh, Bác đều nhớ rành rọt. Một địa đạo ở xã Vĩnh Quang bị bom Mỹ đánh sập, trêm 60 người chết thảm, Bác lau nước mắt. Các em nhỏ Vĩnh Linh sơ tán ra các tỉnh miền Bắc bị bom Mỹ giết hại dọc đường đi, Bác khóc. Bao nhiêu cán bộ, chiến sỹ Vĩnh Linh ra Hà Nội gặp Bác, nghe Bác hỏi thăm từng chi tiết nhỏ trong cuộc sống đời thường mà cứ ngỡ như Bác đang sống giữa Vĩnh Linh. Đất nước cắt chia, dòng sông Hiền Lương là nỗi niềm thổn thức canh cánh trong lòng Bác. Vĩnh Linh, nơi có nhịp cầu Hiền Lương bên thương bên nhớ chính là nơi đọng lại trong niềm thao thức sâu thẳm của Người. Tình cảm bao la của Bác dành cho cả nước nhưng với Vĩnh Linh được Bác quan tâm ưu ái đặc biệt. Ngày 16 tháng 6 năm 1967, khi vào thăm Quảng Bình nhưng chưa thể vào Vĩnh Linh được, Bác nhắc lại với cán bộ Vĩnh Linh có mặt ở cuộc gặp gỡ đó: “ Vì xe không đến được, mà Bác chưa có điều kiện vào thăm…”. Trước gần 3 vạn đồng bào Quảng Bình và Khu vực Vĩnh Linh có mặt tại thị xã Đồng Hới, Bác chỉ rõ: “ Quảng Bình, Vĩnh Linh ở tuyến đầu miền Bắc, tiếp giáp với miền Nam, mọi việc làm tốt hay xấu của các cô, các chú ở đây đều có ảnh hưởng nhất định đến Cách mạng miền Nam, đều có ý nghĩa đến việc bảo vệ miền Bắc. Nếu kẻ địch có hoạt động liều lĩnh gì thì Quảng Bình, Vĩnh Linh phải đương đầu với chúng trước hết và phải bảo đảm đánh thắng chúng trước hết.”.
          Nhân dân vĩnh Linh chưa được may mắn gặp Bác nhưng sự chăm lo qua lời dạy bảo ấy khiến mọi người càng yêu kính Bác và tự răn mình không làm điều gì phụ lòng mong muốn của Người. Ở Vĩnh Linh, nhiều người vẫn chưa hiểu hết những sự tích ngay chính trên quê hương của mình, thế nhưng Bác lại hiểu một cách tường tận. Ngay những câu hát dân gian, những câu ca dao người Vĩnh Linh hát cho Bác nghe, Bác còn chỉ bảo những chỗ chưa đúng, chưa hay. Có một lần, Bác hỏi đồng chí Hồ Sỹ Thản: “ Vì sao nơi rừng rậm trên đường số Một ở vĩnh Linh gọi là Truông nhà Hồ hở chú?”. Không đợi trả lời, Bác mim cười giải thích luôn: “ Chỗ ấy ngày xưa lắm trộm cướp nhưng ngày nay chỗ ấy đang xây dựng CNXH. Ở đó chưa ăn ngon mặc đẹp nhưng cũng đã no đủ…”. Đồng chí Phan Văn Toàn, bí thư Đảng ủy xã Vĩnh Kim được gặp Bác, kể lại rằng: Ngày 16 tháng Tư năm 1959, giữa hội trường Hà Nội đông người, bỗng Bác gọi to: “ Chú Toàn Vĩnh Linh có đây chưa?”. Tiếp theo, Bác hỏi thăm sức khỏe các cụ già, cháu nhỏ, hỏi cặn kẽ từng bữa ăn, giấc ngủ của bà con Vĩnh Linh. Biết Xã Vĩnh Kim ruộng ít, đất nhiều, Bác dặn: “ Các chú phải tích cực trồng màu, nhất là khoai sắn, lúa ít phải có màu, hai chân đo cho thật vững vàng”. Bác còn dặn tỷ mỷ: “ Nhưng mọi việc phải dân chủ, đừng làm một mình Bí thư mà sai đấy. Chú về nói với bà con Bác khỏe, đồng bào đồng chí cố gắng thêm nữa để Bác khỏe thêm”. Xã Vĩnh Kim là nơi vất vả khó nghèo, nơi bắt nguồn câu ca dao chua chat “ăn cơm bữa diếp” (tức là 3 ngày mới có một bữa cơm, còn lại chủ yếu khoai sắn) vẫn kiên trung xây dựng cuộc sống nông thôn mới. Chính vì thế, Bác tặng Vĩnh Kim chiếc máy cày mà nước nước bạn tặng Bác trong chuyến đi thăm các nước Xã Hội Chủ Nghĩa sau cuộc kháng chiên chống Pháp thắng lợi. Tình thương của Bác như một người cha đầy lòng nhân ái, bao dung. Khi đồng chí Hồ Ray, người dân tộc Vân Kiều ở Vĩnh Linh được gặp Bác, bác căn dặn: “ Muốn khôn phải học văn hóa, muốn đỡ khổ phải định canh định cư”. Đòng bào Vân Kiều mang họ Bác, gọi Bác là Cha và đã làm đúng lời Bác dạy. Bác không đến được với đồng bào Vân Kiều nhưng tình Bác vẫn tỏa đến tận từng bản, làng, từng nếp nhà sàn giữa núi rừng đèo cao heo hút. Năm 1960, đồng chí Nguyễn Thanh Bình (sau này là Ủy viên Bộ chính Trị) được Bác ủy nhiệm đưa quà của Bác đến tặng cho đồng bào Vân Kiều Vĩnh Linh. Các già làng đã triệu tập dân bản mình đứng trước ảnh Bác Hồ và nói lời trang nghiêm: “ Cụ Hồ là vị Thánh. Đồng bào ta phải mang ơn Cụ dài lâu như con suối, cây rừng của chúng ta”.
          Nỗi buồn vui của Bác được bắt nguồn từ nhân dân. Mỗi chieeens công, mỗi khó khăn ở Vĩnh Linh, Bác đều trăn trở. Đọc báo Thống Nhất Vĩnh Linh, thấy có gương người tốt, việc tốt, Bác gửi thư khen và tặng Huy hiệu của Người. Đồng chí Dương Tốn, Chủ tịch ủy ban hành chính Khu vực Vĩnh Linh kể lại: Năm 1966 được ra Hà Nội gặp bác, Bác hỏi ngay:
- Ở Vĩnh Linh có phải đồng bào đủ ăn và thừa khoai sắn không?
-Dạ thưa Bác đúng ạ.
Bác tươi cười nhưng vẫn dặn:
-Các cô, các chú làm cách mạng phải lo cho cái dạ dày của đồng bào, vì dạ dày của mọi người mà lỏng lẻo thì không thể đánh giặc được và không làm được việc gì cả…
Gặp người Vĩnh Linh dù chỉ một lần, Bác nhớ mãi. Năm 1968, đồng chí Dương Tốn lại ra Hà Nội gặp Bác để báo cáo tình hình Vĩnh Linh. Bác cười trìu mến: “Tưởng ai mô xa lạ, chứ khách này quen rồi”. Nói xong, Bác lặng đi vài giây vì xúc động, ánh mắt nhìn vời vợi về phương Nam. Khi nghe đồng chí Dương Tốn báo cáo về tình hình địch dung mọi phương tiện chiến tranh để hủy diệt Vĩnh Linh,  Bác chống tay lên trán đăm chiêu. Khoảnh khắc ấy trông Bác già hẳn, trán hằn nếp nhăn. Khi nghe đến đoạn nói về Vĩnh Linh vẫn vững vàng trong đạn lửa, đồng bào vẫn hăng hái đi dưới giao thông hào ra đồng sản xuất, tổ chức đời sống tốt, xuất hiện nhiều gương sáng trong chiến đấu,  lao động, Bác phấn khởi vô cùng. Bác bảo đồng chí Dương Tốn kể tỷ mỉ về sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dưới hầm chữ A, trong lòng địa đạo, về sức khỏe của các cụ già, cháu nhỏ, chị em phụ nữ. Khi nghe kể về cuộc sống gian khổ nhưng cực kỳ oanh liệt của Vĩnh Linh, Bác im lặng suy tư. Bác nghĩ tới thực tại cả Vĩnh Linh lúc bấy giờ bao nhiêu gia đình tan nát, mất mát , tang tóc, nhiều vành khăn tang chồng lên trên những mái đầu, bao nhiêu hoàn cảnh vợ chồng ly tán…Hình ảnh các em nhỏ, cụ già, phụ nữ bị bom đạn vùi sâu trong lòng địa đạo hoặc bị tàn sát ngay giữa mâm cơm chưa kịp ăn, Bác nghẹn lòng không nói được. Bác nghĩ đến nhiều cháu nhỏ Vĩnh Linh sơ tán ra Miền Bắc bị bom Mỹ giết hại dọc đường đi…Sau một lúc xúc động, Bác lau nước mắt và chỉ thị cho đồng chí Dương Tốn: “ Khu ủy và Ủy ban hành chính Khu vực Vĩnh Linh cần cử người đến thăm các cháu sơ tán đểcác cháu đỡ nhớ”. Vài ngày sau, Bác chỉ thị cho các tỉnh có nuôi con em Vĩnh Linh cần tạo điều kiện động viên, nuôi dạy tốt các cháu. Bác nói rằng: “ Đó là những hạt giống đỏ của quê hương đất thép Anh hùng, cần phải nâng niu như quả trứng hồng”.
Bao nhiêu nỗi đau của dân tộc đều đọng lại trong lòng Bác. Đêm đêm, Bác thao thức nhớ miền Nam, nghĩ về nỗi đau chia cắt mà dòng sông Bến Hải ở Vĩnh Linh như vết thương lòng hằn sâu tim Bác. Từ khi Vĩnh Linh bị giặc Mỹ hủy diệt, gần một trăm phần trăm làng xóm bị bom đạn san bằng, biến thành vùng trắng trước con mắt thần điện tử Mắc Na Ma Ra ở Ba Dốc thuộc bờ Nam sông Bến Hải, Bác đau xót không nguôi. Có người Vĩnh Linh ra gặp Bác thì Người mừng lắm, như gặp lại người thân sau chuỗi ngày mong đợi. Khi Anh hùng Lao động Đinh Như Gia được vinh dự gặp Bác, câu đầu tiên Bác hỏi ngay: “Vụ Vĩnh Quang ra sao rồi?” và Bác khóc. Đồng chí Đinh Như Gia nức nở khoc theo nghẹn ngào. Địa đạo Vĩnh Quang bị bom Mỹ đánh sập, trên sáu mươi người vùi sâu trong lòng đất nhức nhối mãi trái tim người!
          Từng giờ, từng ngày, Vĩnh Linh trông đợi Bác Vào. Tuy Bác không vào được nhưng tình yêu thương bao la của Bác dành trọn vẹn cho cả Vĩnh Linh. Ngày 11 tháng 11 năm 1966, xã Vĩnh Thủy  anh dũng ngoan cường bắn rơi 6 máy bay giặc Mỹ, 3 ngày sau có thư Bác gửi vào khen: “ Bác vui lòng thay mặt Trung Ương Đảng và Chính phủ đặc biệt khen ngợi đồng bào, cán bộ và bộ đội Vĩnh Linh; Các địa phương hãy ra sức thi đua đánh giặc giỏi, thắng lớn như Vĩnh Linh”. Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Vĩnh Linh bắn rơi 2 máy bay B.52, ba ngày sau Bác đã có thư gửi vào khen: “ Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác đặc biệt gửi lời khen ngợi đồng bào, chiến sỹ và cán bộ Vĩnh Linh đã đánh giỏi, đánh trúng, chiến thắng vẻ vang. Vĩnh Linh thật xứng đáng là tiền tuyến Anh hùng của miền Bắc XHCN”. Dù ở xa nhưng lòng  Bác vẫn hướng về Vĩnh Linh, nơi niềm tin của cả nước và bạn bè Quốc tế. Một chiến thắng dù lớn nhỏ Bác đều gửi thư thăm hỏi, chúc mừng. Những cử chỉ ấy đã làm rưng rưng tình cảm, lòng biết ơn vô hạn của nhân dân vùng giới tuyến. Ngày mùng 5 tháng 6 năm 1968, Bác gửi thư khen cán bộ, chiến sỹ đảo Cồn Cỏ bắn rơi 4 máy bay giặc Mỹ: “ Cồn Cỏ xứng đáng là đảo nhỏ Anh hùng.
Cồn Cỏ nở đầy Hoa thắng trận
Đánh cho tan xác giặc Huê Kỳ”.
Ngày 16 tháng 8 năm 1968, Bác lại gửi thư khen ngợi quân và dân Vĩnh Linh bắn rơi chiếc máy bay thứ 200 của giặc mỹ: “ Vĩnh Linh càng đánh càng thắng, càng đánh càng mạnh. Bác tặng vĩnh Linh 2 câu thơ:
          Đánh cho giặc Mỹ tan tành
Năm châu khen ngợi Vĩnh Linh Anh hùng”.
Ngay sau khi giặc Mỹ ngừng ném bom miền Bắc lần thứ nhất, Bác trực tiếp điện vào Vĩnh Linh: “ Để cho đồng bào lên trên một tý nhưng đừng để sơ suất”. Chính những chi tiết cảm động này đã làm cho cả Vĩnh Linh nức nở khi nghe tin Bác qua đời và những ngày đau buồn mang tang Bác. Dù trăm công nghìn việc mà Bác không quên những việc đời thường đối với mỗi vùng đât, mỗi con người, mỗi hoàn cảnh gia đình. Bác chưa một lần dừng chân ở Vĩnh Linh nhưng lòng Bác lúc nào cũng nghĩ tới miền quê đầy máu lửa đang hiên ngang nơi đầu sóng ngọn gió. Quê hương đất đỏ lòng vàng đã sinh ra những con người kiên trung, bất khuất, làm cho không lực Huê Kỳ bàng hoàng kinh hãi. Trong 8 bức thư và điện gửi vào Vĩnh Linh có 2 bức thư Bác dung từ “đặc biệt khen ngợi”. Trong Đại hội Công-Nông-Binh ở Khu vực Vĩnh Linh năm 1968, Bác cử đồng chí Lê Thanh Nghị vào dự và mang theobức ảnh Bác tặng, phía dưới bức ảnh có dòng chữ chính tay Người viết: “ Khuyên cán bộ một lòng một dạ phục vụ nhân dân, chúc đồng bào các dân tộc đoàn kết chặt chẽ, sản xuất, chiến đấu giỏi, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Đó là quà tặng quý giá, thể hiện tình cảm sâu nặng, sự quan tâm ân cần của vị Lãnh Tụ đối với Vĩnh Linh.
Ghi tạc lời Bác dặn, đồng bào, cán bộ, chiến sỹ Vĩnh Linh từ miền ngược đến miền xuôi không ngừng vươn lên trong chiến đấu và xây dựng để đền đáp tấm lòng trời bể của Người; Xứng đáng là tuyến đầu miền Bắc XHCN, hậu phương của miền Nam, góp phần cùng đồng bào, chiến sỹ cả nước đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào, giải phóng hoàn toàn miền Nam, giang sơn thống nhất, đúng như lúc sinh thời Bác hằng mong đợi.
Cứ mỗi lần nghĩ đến Bác, Vĩnh Linh nguyện mãi mãi noi theo đức hy sinh vì nghĩa cả của Bác, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, vượt lên muôn vàn khó khăn gian khổ thời hậu chiến, xây dựng quê hương từ đổ nát hoang tàn trở nên giàu đẹp, văn minh. Càng thương nhớ Bác, các thế hệ ở Vĩnh Linh truyền tụng cho nhau những lời dạy thiêng liêng của Bác. Trong công cuộc xây dựng nông thôn mới hôm nay, Vĩnh Linh đang chuyển mình vươn tới, thực hiện ước mong cao cả mà trọn cuộc đời Người chỉ một lòng vì nước vì dân!

                                                Vĩnh Linh, tháng 5- 1990

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét