Thứ Hai, 21 tháng 1, 2013

OAN HỒN, HỒN HIỆN

          - Em ơi! Đừng đốt…Nóng quá! Chị đây mà… Mong ơi…!
          Cứ vào những đêm khuya thanh vắng, nhất là giữa tháng và cuối tháng âm lịch, người ta thường nghe những lời than vãn, kêu khóc thê thảm như thế trên cánh đồng Đuồi nằm cạnh làng Thầm Thì. Đó là tiếng la hét, rên rỉ của một phụ nữ điên trong làng. Cứ mỗi lần nổi cơn điên, bà ta chạy ra ngoài đồng la hét. Tiếng van khóc cất lên giữa canh khuya tĩnh lặng, khiến ai nghe cũng phải rợn tóc gáy. Người ta đồn đại với nhau rằng:
          - Đó là tiếng khóc của một hồn ma bị chết oan do chính bà ta tàn nhẫn đã đốt cháy người chị ruột của mình tại một lều vịt bỏ không giữa đồng. Hồn người chị đã nhập vào người em làm cho người em phát điên và nói ra bằng lời của người chết.
          Chuyện xẩy ra vào một đêm tối trời. Người ta không còn nhớ rõ vào tháng  năm nào. Khi hồn ma chết oan vẫn còn phiêu lạc, vật vờ chốn dương gian, chưa được siêu thoát nên cứ hiện về ngay cái nơi mình bị thiêu sống, nhập vào người gây tội và kêu gào thảm thiết. Chuyện nói ra có thể nhiều người không tin, nhưng ai ở làng Thầm Thì cũng như những làng gần đấy đều phải thừa nhận là có thật. Chuyện âm oán, oan hồn, hồn hiện vẫn xẩy ra đâu đó, ai cũng biết, có nhiều người còn được chứng kiến rõ ràng. Mọi người thường bảo: “Những người chết oan thường hay về báo mộng cho người nhà biết. Đặc biệt, những kẻ giết người không sớm thì muộn cũng bị quả báo do người chết oan xui khiến ra”. Thoạt nghe, cứ ngỡ đó là cách nói của người đời răn dạy hậu thế phải sống lương thiện, tránh điều ác, vì “ác lai, ác báo”. Cuộc sống có vô khối chuyện về nhân tình thế thái phơi bày nhan nhản, làm cho chúng ta phải giật mình, không thể bỏ ngoài tai những lời như vậy. Người sống gặp ma, nói chuyện với ma hoặc thấy hồn ma về báo mộng diễn ra nơi này nơi nọ, không còn là chuyện hiếm. Lúc đầu nhiều người không tin, nhưng rồi có những chuyện liên quan đến hồn người chết hiện về, ngầm báo mộng cho gia đình biết trước những việc sắp xẩy ra, và thực tế đúng y như vậy thì làm sao không thể không tin được?
          Hãy trở về tìm tiếng khóc của hồn ma người chị nhập vào làm cho người em phát điên vừa nói ở trên để hiểu cả một câu chuyện dài xót xa, ai oán đã từng xẩy ra, gây suy nghĩ cho bao người mà chưa thể lý giải được. Chuyện cứ lan truyền đi khắp nơi. Ai không tin, cứ đến làng Thầm Thì sẽ rõ…

*
*   *
          …Thời thuộc Pháp, cuộc sống của nông dân rất khổ cực. Tại một vùng quê nghèo thuộc một tỉnh miền Trung, có một gia đình nông dân sinh hạ được 4 người con - hai gái, hai trai. Do cuộc sống đói khổ nên khát vọng của họ cũng thật đơn giản: chỉ cần mỗi ngày có 3 bữa ăn, dù chủ yếu là sắn, khoai có cơm bám lưa thưa, nhưng no bụng là hạnh phúc lắm rồi. Dân chúng chỉ còn biết cầu trời mưa thuận gió hòa, đừng làm mùa màng thất bát, khiến gia đình phải tha phương cầu thực, cuộc sống bi đát lắm. Bốn đứa con của vợ chồng nông dân nọ được đặt 4 cái tên, thể hiện ước mơ cụ thể và rất giản dị của gia đình: Ước- Mong  -Được - Mùa. Nhờ được mùa thì bát cơm sẽ không bị vơi đi, con cái không bị nheo nhóc, đói khát. Chao ôi! Ước mong chỉ nhỏ nhoi vậy thôi nhưng sống dưới thời Pháp đô hộ sao mà khó khăn đến thế? Có một năm xẩy ra dịch tả, vì nhà nghèo không lo nổi thuốc men nên thằng Mùa là con út đành phải về với tổ tiên  lúc mới 4 tuổi. Hai đứa con gái là Thị Ước và Thị Mong lớn lên nhưng tính nết rất khác nhau. Con chị ít nói, hay nhường nhịn nên con em được thế lấn lướt, cái gì cũng giành phần hơn. Mọi việc trong gia đình hầu như đều do con chị gánh vác, đỡ đần bố mẹ. Còn con em thì biếng nhác, tránh nặng tìm nhẹ, thích ăn diện. Con em tính khí cũng chẳng hiền. Ngay mấy con gà con đang còn chiếp chiếp theo mẹ vào bươi móc trong bếp kiếm mồi, nó lấy vật cứng ném chết tươi mà mặt tỉnh bơ, không chút thương tiếc. Cùng bố mẹ sinh ra mà tính nết hai chị em khác nhau một trời một vực. Riêng thằng Được thì hay nghịch ngợm, rất sợ chị Mong biết, chuyện gì cũng mách bố mẹ, còn chị Ước thì lại giấu mọi chuyện cho nó. Thằng em chỉ thích chơi với chị Ước, không chơi với chị Mong.
           Cách đó vài xã, có một gia đình phú hộ rất giàu nhưng bà vợ chỉ sinh được 3 quí tử rồi tịt luôn. Do quan niệm phong kiến: “Tam nam bất phú” nên vợ chồng nhà ấy lo lắng, sợ về lâu dài, tài lộc không còn thịnh vượng. Nghe lời thầy bói phán rằng:“muốn giữ gia thế không bị tụt dốc thì phải kiếm một đứa con gái tuổi Hợi khác xã về làm con nuôi”. Vậy là ông chồng cất công đi đến nhiều xã ở xa để tìm đứa con gái tuổi Hợi nhưng đã hơn cả tháng trời vẫn chưa gặp. Ông mang theo một tay nải tiền đồng, sẵn sàng bỏ ra nhiều tiền để trả ơn gia đình nào cho ông đứa con gái về làm con nuôi đúng như lời thầy bói đã dạy. Trước đó, ông còn đến tiệm kim hoàn đánh một cặp vòng bạc đeo tay rất to để làm vật kỷ niệm cho người mẹ nào có đứa con gái đó. Kể ra, ông ta khá chu đáo trong chuyện đi xin con nuôi. Nhờ có một người thân mách bảo, lão phú hộ tìm đến nhà vợ chồng nông dân có đứa con gái tên là Mong sinh đúng năm Hợi. Khi con chị tên là Ước nghe hết đầu đuôi câu chuyện giữa lão phú hộ với bố mẹ, tự nhiên nó khóc và đến ôm lấy em gái, nhìn kỹ từng đặc điểm đáng nhớ trên mặt, trên tay của em, đặc biệt cái nốt ruồi hơi khuất ở bên cằm thì không lẫn vào đâu được, vì trên nốt ruồi trồi lên một sợi lông nhỏ, nếu tẩy nốt ruồi đi sẽ nguy hiểm đến sức khỏe. Con chị suy nghĩ sâu xa đến chuyện sẽ đi tìm lại đứa em gái sau này. Nghe hết đầu đuôi câu chuyện tìm con nuôi của lão phú hộ, vợ chồng nông dân kia nghĩ rằng:“cho con Mong về ở với nhà ấy cũng được, sau này chị em chúng vẫn còn có nhiều dịp đi lại với nhau cơ mà. Nhà nghèo, thôi thì nó về với người ta cũng là phúc cho nó…”. Thế là gia đình nông dân cho con Mong đi làm con nuôi nhà phú hộ mà không đòi hỏi gì cả. Lão phú hộ cho nhà nông dân một khoản tiền và để lại địa chỉ của mình cho gia đình. Trước khi đưa con Mong đi, lão phú hộ lấy ra một chiếc vòng bạc tặng cho chị nó chứ không tặng bà mẹ cả cặp như suy nghĩ ban đầu, vì lão thấy con chị quá tội nghiệp, nó vừa khóc vừa mếu, nước mắt lã chã ướt hết vạt áo khi đành phải rời xa đứa em bé bỏng. Đúng là: “ chị em như khúc ruột liền, xa nhau đau đớn nỗi niềm thịt da!”. Con chị thì như thế, nhưng con em lại khác hẳn, nó chỉ biết bản thân mình thôi, không cần biết đến người khác. Khi lão phú hộ đưa vòng bạc ra thì con em chộp lấy đeo luôn vào tay, không chịu để cho chị. Con Ước nhường em, không cần chiếc vòng đó. Nó còn chạy vào buồng lấy cho em mấy thứ mà nó đang dùng, trong đó có một cái  kiềng bằng đồng hườm trang sức đeo cổ của mẹ cho rất đẹp, nó rất quý nên cất kỹ. Thấy vậy, lão phú hộ lấy chiếc vòng bạc thứ hai đưa con chị. Đặc điểm hai chiếcvòng bạc giống y hệt nhau, trên vòng có chạm nổi 5 hình ngôi sao mà lão phú hộ đặt tiệm kim hoàn làm ký hiệu riêng cho khác với mọi chiếc vòng bạc trong thiên hạ…
          Cô bé Mong về làm con nuôi nhà bá hộ rất sung sướng. Nó được bố mẹ nuôi chiều chuộng, ăn mặc theo kiểu con nhà giàu nên trông nó khác hẳn lúc ở với bố mẹ đẻ. Gia đình bá hộ thấy cái tên Mong không đẹp nên đổi tên nó thành Hương  Mơ và làm lại giấy khai sinh là con do vợ chồng sinh ra. Cô bé Mơ càng lớn càng xinh đẹp, bố mẹ nuôi vô cùng phấn khởi. Từ khi có đứa con nuôi, gia đình bá hộ làm ăn phát tài hẳn lên. Gốc tích của cô bé Mong ít được mọi người nhắc đến nữa. Người ta chỉ biết Hương Mơ là con gái của nhà bá hộ. Còn chị Ước của nó đang ở với bố mẹ cũng đã đến tuổi lấy chồng. Ước không đẹp như em gái, nhưng bù lại bằng tính nết thùy mỵ, khỏe mạnh, hay gần gủi và giúp đỡ mọi người xung quanh khi khó khăn. Có một chàng trai ở Thanh Hóa đi làm thuê cho nhà giàu, tình cờ gặp Ước đi gáng nước với mẹ ở giếng làn nên đã đem lòng yêu mến. Cô gái thấy người rạo rực và ưng ý nên cũng xiêu lòng, chấp thuận theo sự ngỏ lời của chàng trai. Gia đình chàng thanh niên ấy đã nhờ người mai mối và cưới Ước về làm vợ. Cuộc sống ở nhà chồng cũng vất vả, chả hơn gì cuộc sống lúc ở với bố mẹ.  Nông thôn thì ở đâu cũng giống nhau, phải làm lụng tối mắt tắt đèn mới có được cái ăn, cái mặc. Cô con dâu rất nết na, phụng dưỡng nhà chồng tận tụy, xóm làng hết lời khen ngợi. Khốn nỗi, anh chồng là con độc đinh của gia đình nên cần phải có cháu nội để nối dõi tông đường. Lấy chồng đã ba năm mà Ước vẫn không có thai, mặc dầu nhà chồng đã chạy đủ thuốc thang cho con dâu. Thầy thuốc bảo rằng: Cô gái bị bệnh vô sinh nên không thể có con được. Bố mẹ chồng nghe thế, rất buồn bã. Mặc dù rất thương con dâu nhưng họ định bụng sẽ đi tìm một cô gái khác cho con trai để kiếm đứa cháu nội, chứ không thể chịu tuyệt tôn như vậy được. Xét cho cùng, khao khát của bậc làm cha làm mẹ cũng phải thôi. Còn anh chồng thì đâm ra chán đời, rượu chè be bét, không còn yêu thương vợ như trước. Nhiều khi không có chuyện gì, anh ta cũng khó chịu và to tiếng với vợ. Phận làm dâu sao mà khốn khổ? Nghĩ đến những người bạn cùng lứa, lấy chồng như mình, được chồng nâng như nâng trứng, săn sóc, nuông chiều đủ điều, Ước càng tủi thân, đêm đêm nức nở một mình. Thế rồi, vợ chồng cũng đến đoạn phải chia tay. Ước lủi thủi ôm bọc khăn gói, nước mắt ngắn dài, trở về với bố mẹ đẻ. Cô thầm trách kiếp người của mình sao mỏng manh, bạc bẽo từ lúc sinh ra cho đến khi lấy chồng toàn chịu lao đao khổ cực, chưa một ngày sung sướng? Thôi thì số phận như thế, phải chấp nhận, chạy trời cũng không khỏi nắng, như người ta thường nói:
                             Cây khô xuống nước cũng khô
                             Phận hèn đi đến nơi mô cũng hèn.
           Về lại với gia đình, cô chăm chỉ làm ăn, dồn hết tình cảm chăm sóc bố mẹ và đứa em trai của mình, không màng đến những niềm vui nào khác nữa.Trong lòng người chị lúc nào cũng nghĩ đến đứa em gái đang làm con nuôi nhà người. Không biết bây giờ nó ra sao rồi, cuộc sống có khó khăn không, nó đã lấy chồng chưa…? Người chị đâu có biết rằng, đứa em gái của mình giờ đây đã thành con gái cưng của nhà bá hộ với cái tên mới là Hương Mơ theo giấy khai sinh của gia đình họ, không phải là Thị Mong của chị ngày nào? Nó ăn ngon mặc đẹp, quên hẳn cảnh nghèo khổ, chân lấm tay bùn mà bố mẹ, chị và em nó đang đeo đẳng tháng ngày? Nó sống rất thoải mái và sắp làm dâu của một gia đình giàu có. Liệu nó có nghĩ đến người chị tội nghiệp lúc nào cũng nhớ về em không? Dù bản tính nó thế nào chăng nữa thì chị vẫn cứ yêu thương em trọn vẹn, không hề trách móc, mặc dầu vẫn biết: Nước mắt chảy xuôi có bao giờ chảy ngược đâu? Mơ về làm dâu một gia đình khác làng. Gia đình chồng sung túc nên con dâu chẳng phải làm lụng gì cả, chỉ lo giữ gìn sức khỏe và sinh nở. Cô sinh một mạch cho nhà chồng 4 đứa con trai trong 6 năm. Cuộc sống nhàn hạ nên anh chồng  hay la cà đánh bạc với đám thanh niên lêu lỏng trong làng. Bố mẹ ngày một già yếu, anh ta không làm chủ được kinh tế, gia đình cứ sa sút dần. Vì đánh bạc bị thua cho nên những thứ tài sản có giá cứ lần lượt ra đi. Khi bố mẹ qua đời cũng là lúc vợ chồng lâm vào cảnh khó khăn. Những đám ruộng tốt phải bán dần để trả tiền nợ đánh bạc. Cứ cái kiểu này thì của núi bố mẹ để lại cũng hết. Vợ khuyên chồng chuyển đến ở một nơi khác để xa nhóm những bợm thường xuyên cù rủ bài bạc, đâm ra hư đốn. Nghe lời vợ, anh ta quyết định bán nhà cửa, ruộng đất bố mẹ để lại làm vốn liếng trong tay rồi cả nhà chuyển đến làng Thầm Thì để sinh sống, tu chí làm lại cuộc đời.
           Làng Thầm Thì ban đầu là một vùng đất hoang, là nơi tập trung của gái giang hồ, trai tứ chiếng thất cơ lỡ vận đến lánh nạn, sinh sống tạm bợ cho qua ngày đoạn tháng. Những  người không có đất, từ nơi khác cũng tìm đến đây định cư ngày càng nhiều, tạo ra một làng mới có dân cư tương đối đông đúc như bao làng quê khác. Khi chưa thành làng, vùng đất hoang vu này là địa điểm thả rông trâu bò, nơi trú ngụ của loài chim “rù rì” có bộ lông màu đen sì, to như con gà mái, chuyên ăn phân  trâu, phân bò tươi từ chập tối trở về đêm. Lũ chim này đi ăn theo từng đôi giống như chim bồ câu. Con đực con cái gọi nhau rộ lên cả một vùng khi tìm thấy thức ăn, nghe giọng khàn khàn, thầm thì như tiếng người trò chuyện. Người lạ đi qua đây vào lúc chạng vạng mà nghe tiếng chim “rù rì” gọi nhau như tiếng người thì phát khiếp, bủn rủn chân tay, cư tưởng bị “ma”hù dọa, ai yếu bóng vía, khi về nhà sẽ bị ốm và hoảng loạn. Chính từ chuyện rất lạ của cái xứ sở một thời khỉ ho cò gáy này nên những gia đình cư trú tại đây đã đặt tên làng là Thầm Thì, gọi lâu thành quen, gần xa đều biết.Về sau, địa phương vẫn giữ cái tên đó để ghi nhớ nguồn gốc ban đầu của địa danh mới này.

*
*   *
          …Thời chiến tranh loạn lạc, nhiều làng quê bị Pháp đốt phá, nhiều người dân bị chúng bắn chết, chặt đầu bêu cọc để đe dọa, vì nghi ngờ làm việc cho Việt Minh. Trong cảnh bom rơi đạn lạc, ngươi dân phải hứng chịu bao sự khốn cùng do thực dân xâm lược gây ra. Bố mẹ đẻ của Ước bị đạn ca nông của Pháp nổ chết khi đang ngủ vào ban đêm. Bố mẹ chết, nhà cửa cháy sạch, hai chị em Ước và Được che lại ngôi lều tạm, đùm bọc nhau để sống. Còn ở làng Thầm Thì, vợ chồng Mơ cũng chẳng hơn gì, nhà cửa tuy không bị giặc đốt nhưng làm ăn rất khó khăn, kiếm được bát cơm cũng chua xót, đắng cay. Khắp nơi, phụ nữ từ già đến trẻ không dám ló mặt ra khỏi nhà, sợ gặp phải Tây lai, Ma Rốc là bị hãm hiếp ngay. Trông thấy đàn ông là chúng bắn bỏ. Còn phụ nữ thì bọn chúng chừa lại để hãm hiếp, xong còn bắt đi theo để tiếp tục “phục vụ” chúng hàng ngày. Có những người chồng khi Tây càn đến, nhanh chân tìm được chỗ ẩn nấp, người vợ chậm chạp bị chúng tóm được lôi xoành xoạch ra giữa sân, lột sạch quần áo, chúng bâu lại như một bầy thú, tranh giành nhau hãm hiếp, thật ghê tởm. Có chị bị chúng thay nhau hiếp đến chết hẳn, rồi đem  cái xác nhầy nhụa, mềm như bún, không một mảnh vải che đậy, vứt ngay giữa ngã ba đường, trông thật thương tâm. Có những em gái mới lớn, bị cả bầy Ma Rốc hiếp đến rả rời, kiệt sức, bất tĩnh mà chúng vẫn không chịu buông tha. Có nhiều người vợ bị bọn Tây đen đè ra giữa nhà, mấy tên bu vào kéo tay, chân người phụ nữ giang rộng ra rồi giữ chặt không thể cựa quậy được, để cho những tên khác thay phiên nhau hãm hiếp hết đợt này đến đợt khác, chúng reo cười, man rợ như bầy thú hoang dã. Người chồng từ chỗ ẩn nấp phải chứng kiến cảnh tượng rùng rợn đó, ruột gan lộn cả lên, nhưng đành chịu nghiến răng, không dám xông ra cứu, vì nếu lộ mặt sẽ lãnh trọn cả băng đạn của những tên cảnh giới đang lăm le xung quanh.Trong cảnh hỗn độn ấy, trộm cắp xuất hiện khắp nơi. Người ăn xin cũng lũ lượt kéo đến ngày càng nhiều. Ai có trâu bò chăn thả trên đồi, những vườn khoai, sắn, ngô mới ra củ, quả non, hoặc của cải có chút giá trị giấu ở đâu đó, nếu không bảo vệ cẩn thận sẽ bị kẻ cắp chôm chỉa nhanh như chớp. Cuộc sống khó khăn, chồng của Hương Mơ sinh ra nghề ăn trộm. Lúc đầu, Mơ khuyên chồng đừng làm nghề đó, nếu bị bắt thì nhục lắm. Nhưng nhiều lần chồng trộm của đem về, những thứ không làm mà tự nhiên có, khiến Mơ nảy lòng tham, không ngăn cản nữa. Và mỗi lần chồng đi “làm đêm”như thế, cô vợ ở nhà rạo rực chờ đợi những thứ chồng mang về đã quen thành lệ.
          Thằng Được đã trưởng thành, nó đem lòng yêu thương một cô gái cùng hoàn cảnh nhà nghèo trong xóm. Sau vài tháng, Cô gái đã về làm vợ. Có người chị của chồng hết mực yêu thương, đứa em dâu sống với nhà chồng hòa thuận, yên ấm .Tuy vậy, trong lòng người chị lúc nào cũng nhớ đến đứa em gái đi làm con nuôi không biết bây giờ đang lưu lạc nơi nào?
          Có một hôm, chị Ước nói với hai vợ chồng Được:
          - Hai em lo liệu việc nhà, chị đi tìm con Mong xem dạo này nó ở đâu, chả biết có chuyện gì xẩy ra với nó không  mà sao dạo này chị thấy nóng ruột lắm?
          Nhắc đến chị Mong, thằng Được buồn lắm. Nó cũng rất nhớ người chị gái đã đi làm con nuôi nhà người ta biệt tăm hơn hai chục năm chưa hề gặp lại, mặc dù khi ở với bố mẹ, người chị ấy hay bắt nạt và chuyện gì chị cũng mách bố mẹ để nó bị ăn đòn thường xuyên. Nó khóc và giục chị Ước đi tìm chị Mong.Thế là người chị chuẩn bị một số đồ dùng cá nhân mang theo đi tìm em. Trước khi lên đường, chị Ước lột chiếc vòng bạc đang đeo trên tay giao thằng Được giữ hộ. Đó là kỷ vật của bố nuôi con Mong tặng chị ngày trước. Thằng Được cầm chiếc vòng bạc, bỗng nhiên thấy phân vân, trên gương mặt khắc khổ của nó hiện lên nét buồn sâu kín. Ngay trong thâm tâm, hình như chị Ước cũng có linh tính một điều gì đó chưa rõ(?). Đời chị chỉ còn hai đứa em ruột là tất cả. Chị muốn quy tụ chúng về sống quây quần chị em sớm tối đùm bọc, che chở nhau. Nếu tìm được con Mong và đưa về, chị sẽ cho nó chiếc vòng bạc của mình, nếu chị gặp chuyện xui xẻo thì đó là kỷ niệm của chị giao lại đứa em dâu.
          Theo địa chỉ gia đình bố nuôi của Mong để lại, chị Ước lặn lội tìm đến tận nơi. Hỏi ra thì mới hỡi ôi: Gia đình bá hộ bị Pháp chiếm đoạt, chúng đuổi mọi người ra khỏi nhà, từ đó bặt tin, không ai biết họ ở đâu. Có người đã nói cho Ước biết nơi đứa con gái của nhà bá hộ lấy chồng. Thế là người chị lại một mạch băng đường chỉ sá tìm về nơi ấy. Cuối cùng, chị đã thất vọng, vì nhà chồng của em gái đã thuộc về chủ khác. Người ta lại chỉ cho chị tìm đến làng Thầm Thì. Chị cứ đi, tối đâu xin ngủ nhờ ở đó. Thân gái dặm trường, đơn chiếc, quạnh quẽ với muôn nỗi gian truân. Vì tình thương, người chị lặng lẽ chịu đựng, vượt qua tất cả. Có lúc chị phải ngủ bờ ngủ bụi, nhịn đói nhịn khát, chỉ mong gặp cho bằng được đứa em gái.      Từ khi Ước rời khỏi nhà đến nay đã hơn một tháng trời rồi mà chưa có tung tích đứa em. Chị vẫn cứ đi, ai chỉ đâu cũng tìm đến, nhất quyết không quay về. Đến được làng Thầm Thì, hỏi cô gái tên là Mong cùng chồng từ nơi khác đến sống ở đây thì mọi người đều lắc đầu. Mọi thông tin hầu như bị bế tắc hoàn toàn. Ước không hay biết tên em gái của mình hiện nay là Hương Mơ. Người chị vẫn đi hết xóm này, xóm khác của làng, vào từng nhà để may ra tìm thấy đứa em.
          Hôm ấy vào cuối tháng âm lịch, trời đã nhá nhem tồi, Ước đến một xóm phía cuối làng Thầm Thì, sát bên cánh đồng Đuồi. Mệt quá! Cô suy nghĩ nên trú chân lại đâu đó, sáng mai sẽ vào xóm tìm em. Cũng may, giữa đồng có một cái lán. Khi đến nơi, Ước mới hay: Đây là một lều chăn vịt của ai bỏ không. Thật may mắn. Thế là cô vào đó nghỉ lại. Đi đường vất vả, nhọc mệt và đói, cô đặt mình xuống là thiếp luôn. Có một tên trộm nấp trong làng, biết được có người ngủ trong lán, đêm nó mò đến lấy luôn cái tay nải của khổ chủ để bên mình mà cô ta vẫn ngủ say như chết, không hay biết. Tên trộm  đem về nhà khoe rồi giao cho vợ. Khi mở bọc vải ra thì thấy có mấy xâu tiền đồng,  mấy tấm lụa tơ tằm, một chiếc khăn trùm đầu bằng tuyết nhung màu đen và những thứ khác dành cho phụ nữ đều có giá trị. Có một chiếc vòng đeo tay bằng đồng xinh xắn dùng trang sức cho phụ nữ đứng tuổi, vợ tên trộm mân mê thích thú. Đó là những thứ mà người chị có từ khi đi lấy chồng, và chắt chiu dành dụm trong nhiều năm. Chị mang theo, định bụng sẽ tặng em gái tất cả cho nó mừng. Hương Mơ đem cất số tài sản chồng cuỗm được, khấp khởi trong lòng, toàn những thứ có giá trị dành cho phụ nữ. Nhưng sao cô ta vẫn thấy sờ sợ. Cô ta nghĩ: “Những món này bị mất, chắc chắn người ta phải đi tìm. Nếu lộ chuyện thì không khéo bị bắt lên xã, lên huyện là cái chắc. Chồng ăn trộm có liên quan đến vợ, không tránh khỏi sự trừng phạt của pháp luật…”. Bao nhiêu lần trộm, khi thì bao sắn khô, vài con gà, hoặc mọi thứ linh tinh khác nhưng không có lần nào chồng mang về nhiều tài sản có giá như thế này cả. Theo ả, chuyện này phải phi tang mới yên tâm sử dụng số tài sản đó mà không ai phát hiện ra. Thế là một suy nghĩ vô cùng độc ác lóe lên trong suy nghĩ đen tối của Thị. Chờ khi chồng ngủ say, Thị một mình cầm theo bao diêm và chai dầu hỏa đi ra ngoài đồng, rón rén đến bên lều vịt, rưới dầu trên mái lán, xung quanh và trước cửa, bật diêm châm lửa đốt. Khi ngọn lửa cháy là Thị chạy một mạch về nhà. Đang mùa nắng, lều vịt chất đầy rơm, rạ khô, lại có thêm dầu, ngọn lửa bùng lên và sáng hừng hực. Người trong lều ngủ mê man không còn biết trời đất là gì, bị ngọn lửa quái ác thiêu cháy, không kịp kêu một tiếng. Khi mọi người trong xóm chạy ra chỗ đám cháy thì kẻ đốt lán đã nằm trên giường, vờ ngủ say không hay biết chuyện xảy ra. Chính anh chồng cũng chẳng mảy may biết chính vợ mình vừa phạm một tội ác tày trời…
          Người chết cháy trong lều vịt không rõ là đàn ông hay đàn bà. Một cái xác đã biến đổi hình dạng hoàn toàn, trông thật khủng khiếp. Dân trong xóm thương tình, họ vận động góp tiền mua quan tài, vải khâm liệm, chôn cất thi thể chu đáo ngay trên nền đám cháy. Ngôi mộ trở thành một nắm đất cô hồn. Chuyện về người chết rất thương tâm đó rồi cũng đi vào quên lãng, vì mọi người không liên quan đến người xấu số kia nên chẳng ai để ý đến nữa. Thời gian lặng lẽ trôi qua…
          Nhưng có một chuyện rất lạ xẩy ra với vợ chồng nhà Hương Mơ. Sau khi người chết cháy ở lều vịt xẩy ra chưa đầy một tháng thì vợ chồng Mơ cùng  bị ốm một lần, cả hai vợ chồng đều sốt cao, nói sảng, nhưng thầy thuốc khám không chẩn đoán được bệnh. Họ nói phải có thời gian theo giỏi mới tìm được bệnh chính xác. Có người bảo phải làm một cái lễ đặt khấn giữa trời may ra khỏi, vì bệnh có hiện tượng như là ma nhập. Mấy đứa con sắm lễ, cúng vái giữa sân, tự nhiên ông bố khỏi bệnh, còn bà mẹ thì đỡ được vài ngày, sau đó chuyển sang điên điên khùng khùng, nói năng nghe như người xa lạ, hay đấm thùm thụp vào ngực, gọi người có tên là Mong ra mà chửi, lảm nhảm chán rồi ôm mặt khóc tấm tức như bị ai đánh. Người nhà nghe, không hiểu gì cả. Thời gian đầu mới phát bệnh, chị ta ở trong nhà, thần sắc thay đổi, nói toàn lời của người điên. Dần dần bệnh nặng thêm, chị ta lang thang trong làng, đêm đến ra ngoài đồng kêu khóc một mình rất thê thảm. Gia đình mời thầy cúng đến để đuổi tà ma nhưng không hiệu nghiệm. Chuyện điên của chị ta vô phương cứu chữa…Và lâu lâu, người ta lại nghe điệp khúc tiếng van khóc của người điên ấy:
- Đừng đốt chị, Mong ơi…Nóng quá, sao mày ác thế…

*
* *
          Thằng Được ở nhà lòng dạ hồi hộp, đứng ngồi không yên. Nó rất lo, không biết chị Ước có chuyện gì không mà đã mấy tháng trời chẳng có tin tức ? Nó bàn với vợ đi mua con bò về nuôi, nhân thể tìm chị Ước đang ở đâu? Làng Thầm Thì nuôi bò nổi tiếng khắp tỉnh nên Được cất công tìm đến đó để mua. Nghe chuyện về người điên hơi lạ nên nó tò mò tìm hiểu xem. Nó đến nhà người điên vào chập tối. Lúc này, người điên đang ngồi trên chiếc chõng tre giữa nhà bốc cơm ăn, trông như người bình thường. Vừa nhìn thấy, thằng Được giật mình kêu lên:
          - Chị Mong!
          Người đàn bà ngước lên ngơ ngác. Chị ta nhìn chằm chằm người đàn ông ngồi đối diện như dò xét. Hầu như trí nhớ bất ngờ được đánh thức, chị ta buột miệng thốt ra: “- Được à?” rồi lấy tay che mặt, khóc nức nở. Cả nhà xúm lại không hiểu đầu đuôi gì cả. Thằng Được nhìn cái nốt ruồi ở bên cằm chị gái vẫn không thay đổi. Cái kiềng bằng đồng hườm chị Ước cho ngày xưa vẫn đeo ở trên cổ kia, không thể nhầm được. Bất ngờ nó thấy chị đeo cái vòng đồng của chị Ước trong cổ tay. Bỗng nhiên nó hỏi chị Mong cũng như hỏi chính người chồng bên cạnh:
          - Chị Ước đâu rồi? Sao ra nông nổi này, chị Mong?
          Người chồng ngạc nhiên:
          - Chị Ước nào? Chị Mong nào?
          Thằng Được càng ngạc nhiên hơn, hỏi lại:
          - Chị Mong không nói gì với anh à? Chị Ước là chị ruột của tôi và chị Mong.
          Nó chỉ vào người đàn bà điên và khẳng định :
          - Đây không phải chị Mong thì là ai? Chị tôi mà tôi không biết à?
          Cả nhà vẫn chưa hiểu. Chị Mong mà người đàn ông kia vừa nhắc đến thì không phải là người điên này. Chắc có sự nhầm lẫn rồi. Có lẽ chị của anh ta giống bà Mơ nên anh ta đã nhầm chăng? Thằng Được bực quá, giọng gay gắt:
          - Một mình chị tôi điên, chả lẽ tất cả các người cũng điên hết à?
          Cả nhà ngồi lại lần mò câu chuyện bấy nay chưa ai biết do người đàn ông đi mua bò kể rành mạch đầu đuôi ngọn ngành bằng giọng ấm ức. Mọi người hết bất ngờ này đến bất ngờ khác. Thì ra, người ngồi trước mặt cả nhà đây là cậu ruột của mấy đứa con trong nhà, và là em ruột vợ của người chồng đi trộm đồ của người ngủ trong lều vịt dạo nọ. Người đàn bà điên không phải là con gái mà là con nuôi nhà bá hộ, tên là Mong do bố mẹ đẻ đặt chứ không phải là Mơ như mọi người từng nghĩ lâu nay... Trời ơi, sao có sự trớ trêu này? Qua câu chuyện, mọi người mới nhận ra nhau, tìm được nhau trong một hoàn cảnh chẳng vui vẻ chút nào. Tất cả bí mật về sự thật đều do chị Mong giấu kín, không tiết lộ với chồng và con. Bây giờ cái kim giấu trong túi áo lòi ra thì chị ấy chẳng biết gì nữa. Nhưng ông trời đã bắt sự thật phải hiện hình, buộc mọi người nhìn nhận đúng sự việc bị khuất lấp. Anh chồng của người vợ điên bắt đầu hình dung ra chuyện oan gia. Khi đi mua bò, sợ thiếu tiền nên thằng Được cầm theo mấy thứ để lúc cần là bán, có cả chiếc vòng bạc của chị Ước. Thằng Được lấy chiếc vòng bạc ra so sánh với chiếc vòng bạc trên tay người điên. Hai chiếc vòng giống nhau y hệt. Mọi người nhìn nhau ngạc nhiên. Câu chuyện dần dần được lộ rõ thêm. Ngừời đàn bà điên nhìn chiếc vòng bạc rồi nhìn chăm chăm vào đứa em trai, hình như bà ta định nói một điều gì đó, miệng mếu như muốn khóc. Lúc này, thằng Được chưa biết chuyện đã xẩy ra với chị Ước. Nhìn chiếc vòng đồng trên tay chị Mong, nó nghi ngờ và nghĩ rằng chị Ước đã đến đây, hai chị em đã gặp nhau, nếu không thì làm sao chị Mong có được chiếc vòng kia? Nó hỏi lại chồng chị Mong:
          - Chị Ước đã đến đây, bây giờ đâu rồi? Cái vòng đồng kia chị ấy mang theo khi đi tìm chị Mong. Anh đừng giấu nữa…
          Câu hỏi của đứa em vợ làm cho anh ta giật mình, luống cuống. Đúng lúc đó, người điên lại lên cơn. Bỗng nhiên chị ta khóc và gào to:
          - Đừng đốt chị, Mong ơi !..Sao mày ác thế hở Mong?.
          Khóc xong, chị ta lăn ra chõng, ngất luôn.
          Nghe tiếng khóc hơi lạ, thằng Được hỏi anh rể:
          - Ở làng này có ai bị chết cháy à?
          Anh rể đã kể lại câu chuyện có một người chết cháy ngoài đồng mấy tháng trước. Nghe anh rể kể, thằng Được linh tính về cái chết của ai đó có liên quan đến chị Mong. Nó cứ phân vân: “tại sao cái vòng của chị Ước lại ở trên tay chị Mong? Chị Ước đâu mà không thấy? Nếu chị Ước đến đây thì tại sao cả nhà không biết…?”. Thằng Được nhìn vào trong phòng ngủ của chị Mong thì thấy ngay chiếc khăn trùm đầu tuyết nhung màu đen của chị Ước thường dùng ở nhà. Rõ ràng có chuyện mờ ám gì đây mà gia đình giấu nó? Không giữ được bình tĩnh, đứa em vợ hỏi anh rể, giọng dồn dập, gay gắt:
          - Anh nói thật xem, những thứ của chị Ước mang theo đều có ở trong nhà này, thế thì chị ấy đang ở đâu? Tôi phải gặp chị bằng được. Anh nói đi…
          Người anh rể buộc lòng kể ra chuyện lấy trộm đồ của người ngủ trong lều vịt. Còn cái lều bị cháy thì anh ta hoàn toàn không biết…
          Nghe xong câu chuyện, thằng Được choáng váng. Nó im lặng suy nghĩ, lòng nặng trĩu. Đêm ấy tại nhà anh rể, nó ngủ mơ thấy chị Ước hiện về, thân thể co quắp, run rẫy và bảo với nó rằng: “Chị đang ở giữa đồng lạnh lẽo quá. Chị không về nhà được. Chị muốn gặp bố mẹ lắm. Em cho chị theo về với…”. Sáng hôm sau, Được bắt anh rể dẫn ra chỗ ngôi mộ trên nền lều vịt bị đốt. Nó linh cảm rằng: đây là mộ của chị Ước. Thằng Được khóc lóc một hồi rồi nói với anh rể, giọng đầy vẻ giận giữ:
          - Kẻ sát nhân đã hại chị tôi rồi. Sao đời chị tôi khổ thế, trời ơi ! Nếu linh thiêng, chị hãy theo em về nhà. Chị ơi !...Em Được của chị đây.
          Ngay sau đó, Được không đi mua bò nữa, tức tốc trở về nhà. Vợ chồng anh làm lễ chít khăn tang, đặt lư hương thờ chị ở một cái am ngoài trời. Đứa em trai suy đoán sự việc và nó khẳng định chắc chắn: Chị Mong đã giết chị Ước. Chính tiếng khóc của chị Mong đã lộ ra chuyện bí mật đó. Nghĩ vậy, anh rùng mình, toát mồ hôi. Anh không nói ra suy nghĩ ấy với ai, kể cả vợ mình. Nỗi đau quặn lòng mà không thổ lộ được với mọi người. Nỗi đau tím ruột gan, nói ra thì nhục nhã lắm. “ Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Anh nghĩ đến điều đó và rất sợ rằng: Nếu thiên hạ biết chuyện em gái giết chị thì không những gia đình chị ấy mang tiếng xấu muôn đời mà anh cũng như cả dòng họ của anh cũng phải chịu chung lời nguyền rủa và dị nghị của người đời không bao giờ gột sạch. Sao điều quái gở này lại giáng xuống đầu anh, lại rơi vào người chị đáng thương? Trời ơi, khủng khiếp quá !
          Sau hơn một năm thì người đàn bà điên chết. Người chồng chôn cất người vợ bên cạnh ngôi mộ người bị thiêu cháy dạo trước. Mấy đứa con chăm sóc phần mộ của mẹ và cả phần mộ người bên cạnh rất chu đáo, vì chúng biết người đó là dì ruột của mình. Theo lời bố, đúng ngày rằm tháng Bảy “xá tội vong nhân”, mấy đứa con đã đưa toàn bộ  những thứ mà bố trót lấy trộm của người ngủ trong lều vịt đem ra đốt trước mộ người chết cháy kia. Những đứa con trong gia đình đã hiểu rõ việc làm quá thất đức do bố mẹ gây ra. Chúng biết như thế nhưng đều giữ kín trong lòng. Phải làm điều thiện cho đến bao giờ mới lấp đầy điều tàn ác do người thân gây ra ở chốn trần gian? Có lẽ vì thế nên ngày giỗ của người ấy cũng được bố con chăm lo hết sức đàng hoàng. Bố con không ai bảo ai, họ đã sống khác hẳn trước, lặng lẽ bỏ tiền ra giúp người đói khát. Những nhà trong xóm gặp khó khăn, họ giúp đỡ nhiệt tình không chịu lấy tiền công. Xóm làng quý mến bố con nhà ấy nên trong nhà có phương việc gì, người ta cũng tự tìm đến,  thân thiết như trong một nhà. Trên cánh đồng Đuồi chỉ có hai ngôi mộ được đắp rất to. Cứ đầu mùa cày cấy, một số gia đình đến thắp hương trước ngôi mộ “cô hồn” bên cạnh ngôi mộ có chủ để cầu mong chuyện làm ăn suôn sẻ. Có linh thiêng từ lời cầu nguyện đó hay không? Cũng chẳng biết thế nào. Nhưng liên tiếp sau này, cánh đồng Đuồi luôn luôn được mùa, không còn kẻ gặt trộm lúa ban đêm. Trong làng, kẻ cắp hầu như vắng bóng. Mọi người phấn khởi lắm. Ở phía dưới chân mộ người chết cháy có một cây dương liễu mọc lên cao vút, vi vu trong gió, như hồn người chết vọng về. Ai ngang qua cũng bỏ vào dưới gốc cây nắm đất hoặc viên đá để mong gặp được sự may mắn. Sống ở đời, ai cũng muốn điều tốt lành, không muốn chuyện rủi ro. Ngôi mộ và cây dương liễu đó đã trở thành những chuyện kể linh thiêng của người dân quanh vùng. Ai cũng tránh điều ác, rất sợ những chuyện quả báo.
          Từ khi người đàn bà điên chết, làng Thầm Thì trở nên yên tĩnh. Ban đêm, người ta không phải giật mình hốt hoảng mỗi khi tiếng than vãn, gào khóc của người phụ nữ ấy bất ngờ cất lên. Nhưng người trong làng vẫn lưu truyền mãi câu chuyện về tiếng khóc của hồn ma nhập vào người điên thuở trước như là lời thú tội của kẻ ác. Mỗi người thêm thắt một tý, nghe ly kỳ, hấp dẫn như thần thoại. Kết cục, nói gì thì nói, chuyện “ác lai ác báo” chớ coi thường. Câu chuyện thực thực hư hư ở làng Thầm Thì xẩy ra từ thời thuộc Pháp, đã qua lâu lắm rồi nhưng mỗi lần có người kể lại, cứ ngỡ như còn mới nguyên…

                                                                           
         
         

         

RỒI  MÙA…                                                                
“Rồi mùa toóc rạ, rơm khô
Bậu về quê bậu biết nơi mô mà tìm”
                                                           - Ca dao-
                                                                           
          Thời Pháp đô hộ, giai cấp phong kiến nắm trong tay phần lớn ruộng đất, nông dân bần cùng phải đi làm công, làm mướn cho chủ đất để kiếm cái ăn, cái mặc. Ruộng đất nhà giàu cò bay thẳng cánh, dân nghèo tứ cố vô thân kéo đến làm thuê đông nghịt. Cái cảnh“chủ” và “đầy tớ” thịnh hành suốt cả một thời gian dài trên mọi làng quê Việt Nam. Kẻ ngồi mát ăn bát vàng, kẻ ăn không hết, người lần không ra án ngữ nặng nề trên những xóm thôn. Đẳng cấp, giai tầng xã hội bị phân hóa sâu sắc. Kẻ nắm ruộng đất trở thành những ông chủ giàu có. Nông dân nghèo phải è mình ra chịu nhiều thứ thuế đè nặng hai vai, phải bán hết ruộng đất, trở thành người trắng tay, làm thuê cho chủ ngay trên phần đất hôm qua đang là của mình. Người nghèo làm thuê cho nhà giàu là điều tất yếu xẩy ra trong xã hội bất công đương thời. Nhà giàu bố trí người làm theo tổ, nhóm và cắt cử người theo dõi, giám sát nghiêm ngặt tận nơi làm việc. Ai làm việc không năng suất hoặc có ý lãn công thì người được chủ tin tưởng phân công theo dõi liền báo ngay với chủ trừ tiền của ngày hôm đó. Nhà giàu bố trí người làm rất chặt chẽ và có tai mắt ở khắp nơi. Kiếm được đồng tiền, bát gạo của nhà giàu phải đong bằng mồ hôi, nước mắt cùng với sự cơ cực, tủi nhục. Nhóm cày, bừa, làm đất là đàn ông khỏe mạnh. Nhóm nhổ mạ, đi cấy, trồng khoai là phụ nữ nhanh nhẹn hoạt bát. Chủ nhà chỉ lựa chọn người làm được việc mới nhận. Còn nhóm đưa cơm, nước, lo việc trong nhà là người thân tín của chủ. Các nhóm được phân ra rạch ròi để ai nấy lo phần việc của mình. Nhưng họ lại có mối liên kết khăng khít với nhau, hỗ trợ nhau trong những lúc khó khăn. Đã cùng thân phận “áo ngắn” nên họ đoàn kết, bênh vực nhau khi bị chủ đối xử tệ hoặc bớt xén tiền công.
           Có chàng thanh niên ở huyện Như Hà tên là Lường mới lập gia đình ở riêng. Vợ đang mang thai, cuộc sống khó khăn, túng bấn nên anh ta đã tìm đến làm thuê cho nhà phú ông ở huyện Yên Mỹ. Anh là thợ cày, bừa rất giỏi. Chủ thuê mướn rất thích. Các cô thợ cấy tranh nhau những đám ruộng do Lường cày, bừa vì đất nhuyễn, cắm cây mạ mát tay. Trong đoàn thợ cấy có Hương là cô gái mồ côi, gốc gác bà con cùng họ với nhà phú ông. Cô này đi ở cho nhà phú ông đã sáu năm nên thạo việc đồng áng, đặc biệt nhổ mạ, cấy lúa luôn dẫn đầu cả nhóm. Cô lại hay giúp đỡ chị em cùng cảnh ngộ. Được Hương bày vẽ tận tình nên chị em mới đến gia nhập nhóm cấy lên tay rất nhanh. Lúc nào nhóm của Hương cũng gánh mạ đến sớm, luôn luôn giành được những đám ruộng do Lường cày bừa. Nhóm bừa và nhóm cấy rất hợp nhau. Vì chủ nhà đã khoán rất cụ thể từng đầu việc trong ngày cho nên mọi người cặm cụi làm cho xong phần của mình để chủ không bắt bẻ hoặc hạ tiền công. Lường có dáng người đậm đà, chắc nịch, làm việc xông xáo nên chị em cứ hay gần gủi trêu đùa. Trời nắng nóng, anh ta lột áo ném lên bờ, ở trần cho mát, vận quần đùi làm việc cho tiện, bày ra thân hình vạm vỡ, cơ bắp nổi lên cuồn cuộn, bóng loáng như bôi mỡ, thu hút ánh mắt của các cô gái. Cô nào chưa chồng cũng ước thầm trong bụng: “Giá như mình có được anh chàng khỏe mạnh như thế thì sướng biết mấy”. Té ra chị em phụ nữ cũng ham muốn vẻ đẹp thân thể đàn ông, cũng mê đàn ông chẳng khác gì đàn ông mê gái, nhưng không chị nào thổ lộ cả. Đàn ông có dáng vóc đẹp, săn chắc cũng là lợi thế trong chuyện tiếp cận phụ nữ, dễ làm cho chị em xao lòng, si mê, khao khát. Trong thực tế, phụ nữ rất mạnh mẽ, khi đã thích người đàn ông nào là tìm mọi cách để giành cho bằng được, chỉ khác đàn ông là họ rất quyết liệt nhưng kín đáo, giữ kẽ để khỏi mang tiếng “cọc đi tìm trâu”. Tình yêu và ham muốn của phụ nữ rừng rực như bếp than hồng, âm ỷ và dai dẳng, không dễ dập tắt. Hiểu được chuyện đó mới thông cảm cho chị em lúc đang yêu. Họ có những chiêu quyến rủ đàn ông theo kiểu riêng của giới nữ. Nhiều chàng trai khờ khạo đã bị chị em khôn khéo tìm mọi cách làm cho “sập bẫy” nên phải chấp nhận cưới vì đã lỡ “có chuyện” rồi, không thể chối. vậy là cô gái đã chiếm được người con trai mình thích.  
           Có khi xong phần việc của mình, Lường để nguyên thân trần như thế nhảy xuống ruộng cấy giúp chị em vài bó mạ. Tính anh chàng vui vẻ, hay giúp người khác nên nhóm thợ cấy cảm mến, thân thiện. Chị em là nhà nông chính hiệu nên rất mạnh bạo trong ăn nói cũng như việc làm. Hương có cảm tình riêng với anh chàng Lường. Đi làm mướn, nhưng mọi người cũng có thời gian rỗi ban đêm, nhóm này vẫn đến chơi với nhóm khác rất tình cảm. Người làm thuê cho nhà này vẫn đến chơi với bạn đang làm thuê cho nhà khác. Nhiều người đi làm thuê lâu ngày nên có dịp quen biết, đi lại thân tình với nhau. Không ít cặp trai gái đã bén duyên, sau đó đưa nhau về quê, nên vợ thành chồng. Những mối tình như thế sống với nhau bền chặt, thủy chung vẹn toàn, họ chỉ đến chính quyền làm thủ tục đăng ký là xong, không tổ chức đám hỏi, đám cưới. Nghèo khổ, cơm độn sắn khoai ngày ba bữa còn khó khăn, lấy tiền đâu để mà làm cỗ bàn mời họ hàng, làng xóm? Đám cưới là ngày trọng đại của đời người nhưng quá khổ cực cũng đành xin “kiếu”, biết làm sao được? Chỉ làm một mâm cơm đặt lên bàn thờ, thắp mấy nén nhang vái lạy tổ tiên để về sống với nhau cho phải đạo. Thế nhưng những đôi vợ chồng ấy vẫn sống hạnh phúc bên nhau đến đầu bạc răng long theo đúng nghĩa của nó.
          Những đêm trăng thanh gió mát, trai gái từ nơi xa đi làm thuê ở lại nhà chủ thường rủ nhau ra đồng hóng gió, nói đủ chuyện trên trời dưới đất. Con trai con gái gần gủi nhau, bày ra nhiều trò vui như hò hát đối đáp, kể chuyện tiếu lâm… Có khi họ còn tổ chức thi vật từng đôi nam nữ mà chả hề e ngại gì cả. Họ chơi với nhau vô tư như hàng ngày cùng làm bên nhau vậy. Nhóm thợ cày chọn Lường đại diện để vật nhau với Hương ở nhóm thợ cấy. Hai người này khỏe mạnh, cân sức, cân tài. Mỗi nhóm còn cử ra một người làm trọng tài cho khách quan. Nếu đại diện của nhóm nào thua thì cả nhóm phải cõng những người trong nhóm thắng đi một vòng quanh đám ruộng rất rộng. Họ chơi vui vẻ và thực hiện luật chơi rất nghiêm túc. Theo quy định: “ba keo mèo mở mắt”, tức là vật nhau phải ba keo mà bên nào thắng hai mới phân thắng bại. Có hai lần, Lường giả vờ trượt chân, bị thua, để cho chị em thợ cấy vỗ tay reo hò đắc chí khi Hương đè được anh chàng Lường dũng mãnh ngã chỏng vó. Thế là các chàng thợ cày phải gập lưng xuống cõng chị em thợ cấy, trông buồn cười vỡ cả bụng. Đây là mẹo do Lường bày đặt, tạo cơ hội cho các anh chàng được dịp trêu ghẹo chị em cho khoái. Có anh nghịch, cứ vòng tay sau lưng níu chặt hai bắp đùi của cô gái, đi hết vòng này qua vòng khác, không chịu bỏ xuống, khiến cô gái phải đấm thùm thụp vào lưng anh ta mới chịu dừng lại. Có anh giả vờ ngã chúi làm cho cô em đang ngồi vắt vẻo sau lưng, rung đùi, ngửa mặt cười đắc chí, bất ngờ bị dúi mạnh, ép hai đầu vú vào lưng chàng trai, biết bị chơi xỏ nhưng cố nhịn vì chả làm gì được. Kể cũng vui. Có chị đỏ mặt ngượng ngùng vì có chàng nghịch ngầm, cứ bước đi chầm chậm và bấm bấm móng tay vào mông, làm cho chị ta nảy nảy người lên trên lưng theo nhịp bước của chàng trai nhưng không dám kêu vì xấu hổ. Các chàng trai nghĩ ra nhiều trò tinh quái khi bị thua cuộc, được phục vụ các chị. Tiếng cười khúc khích của cánh đàn ông bật lên, khiến chị em xúm lại cấu véo, thi nhau đấm vào lưng những anh chàng có“âm mưu” nghịch ngợm. Và những trận cười lại rộ lên khắp cánh đồng. Những cuộc vui nam nữ như thế, hôm sau sẽ trở thành chuyện kể râm ran trong đám người làm. Niềm vui ấy đã giúp cho mọi người quên hết mệt nhọc của tháng ngày làm mướn cho nhà giàu, để tạm quên đi thân phận nghèo khổ. Qua những lần gần gủi, tự nhiên Hương và Lường phải lòng nhau. Chả biết anh chị quan hệ với nhau lúc nào mà khi xong mùa cày cấy, mỗi người một ngả thì Hương đã có mang. Hương cứ nghĩ, chỉ vài tháng đến mùa gặt là anh ấy trở lại, chỉ cần anh nhận con là được, coi như đứa con có bố. Quan niệm tình yêu của nông dân đi làm thuê thời ấy rất đơn giản. Họ yêu nhau, lấy nhau cũng không cần môn đăng hộ đối. Bao nhiêu cặp vợ chồng đã xây dựng gia đình như thế. Hương yêu Lường và trao gửi hết cho chàng trai ấy cũng từ suy nghỉ giản đơn là mùa gặt tới, anh ấy sẽ trở lại rồi hai đứa dẫn nhau về quê sinh nở. Hương không biết anh ấy đã có vợ. Với lại, nếu anh ta có vợ thì cũng chả sao cả, chỉ bị tai tiếng một thời gian thôi, sau đó chả ai nhắc đến nữa. Thời phong kiến, chuyện đàn ông năm thê bảy thiếp là bình thường, không phải bị nghiêm cấm theo luật hôn nhân và gia đình như sau này. Thế nhưng, khi khắp mọi cánh đồng, lúa chín rộ, trai gái từ nhiều nơi kéo đến gặt thuê cho nhà giàu, vàn công cho nhau để kịp mùa vụ mà chẳng thấy tăm dạng Lường đâu cả. Bụng Hương ngày càng to, làm việc mỏi mệt, ể oải. Nhà phú ông biết chuyện Hương có mang với anh chàng Lường nhưng không rõ anh ta ở tận nơi nào để tìm bắt anh ta phải nhận hậu quả đã gây ra. Còn Lường khi xong đợt làm thuê, nhận tiền và gạo về nhà thì cũng là lúc chăm lo cho vợ đang ở cữ. Anh không trở lại nhà phú ông như lời hẹn với bạn cày, bạn cấy. Trong lòng người đàn ông này vẫn còn văng vẳng câu hát của mấy cô trong đoàn thợ cấy, nghe cứ  buồn buồn, da diết, nôn nao:
                                      Anh về, đến hẹn… nhớ lên
                             Ngày ngày em ngóng, đêm đêm em sầu…
          Tình cảm nhà nông mộc mạc, chân chất. Tình yêu của họ cũng bộc trực, tha thiết giống như câu hát ẩn chứa tất cả nổi niềm yêu thương tha thiết, thấm đẫm vị bùn đất màu mỡ ấp ủ những mùa vàng rạo rực lòng người. Tình yêu ấy nảy mầm trong lam lũ, nhọc nhằn, nó thanh khiết như hương đồng gió nội, không hề có một chút gợn tính toán thiệt hơn…
          Lường đành tạm biệt bạn cày, bạn cấy, tạm biệt những tháng ngày làm thuê vất vả nhưng mà vui vì đông bạn bè từ nhiều nơi tụ hội. Trong thâm tâm, Lường muốn có dịp trở lại làm ở nhà phú ông để gặp người con gái đã có tình có nghĩa sâu nặng với mình. Thời gian thầm lặng trôi qua, anh quên hẳn người bạn gái có tên là Hương đã từng say đắm, ôm ấp, chiều chuộng anh bên một cồn đất hoang ở giữa đồng vào những đêm khuya. Hai anh chị đã sống những giờ hạnh phúc trọn vẹn chỉ có sao trời chứng kiến. Anh ra về không hay biết người con gái ấy đã mang giọt máu của mình. Hương chưa nói cho anh biết chuyện đó. Cô chỉ nghĩ rằng: vài tháng sau là đến mùa gặt, anh trở lại rồi nói cũng chưa muộn. Chính cô cũng chưa một lần hỏi địa chỉ người con trai mà mình đã giao trọn tất cả những cái quý giá nhất của người con gái. Bây giờ biết anh ở nơi mô mà tìm? Chuyện dại - khôn trong tình yêu nói làm sao cho hết? Khi biết khôn thì đã lỡ dại rồi, không sửa được nữa. Xong vụ gặt, Hương nghỉ chờ ngày sinh con, không đi làm cho nhà phú ông nữa.
           Đứa con gái của Hương có gương mặt rất giống mẹ. Người ta bảo rằng: con chửa hoang, nếu là trai thì giống cha y tạc, nếu là gái thì giống mẹ như đúc. Hàng ngày ru con, Hương hát những câu nghe buồn buồn với tâm trạng bâng khuâng, trách móc người tình sao nỡ vô tâm, để người yêu chịu trận một mình:
Rồi mùa, toóc rạ, rơm khô
Bậu về quê bậu, biết nơi mô mà tìm?
          Rồi mùa, tức là đã xong mùa vụ, nhưng cũng là xong một cuộc tình. Hai người đã trao gửi hết cho nhau, khi thỏa mãn rồi thì em ngả, anh nghiêng, giống như “toóc rạ, rơm khô”. Ẩn ý của người xưa thật là kín đáo. Cũng có những chàng trai khi đã thỏa mãn, tỏ ra chán chường, bỏ của chạy lấy người, không dám chịu trách nhiệm. Thật là phũ phàng. Lời ru ấy, Hương đã nghe từ nhỏ và hát ru con của mình, vì nó đúng với nổi lòng cô lúc này. Lời ru, nói đúng hơn, chính là lời giận hờn sâu kín xen lẫn nhớ nhung, hoài vọng, thắc thỏm của người con gái. Đó là cách nói bóng bẩy để chỉ tình yêu trai gái dành trọn cho nhau và đã trót xẩy ra chuyện hoang thai nhưng không lấy được nhau vì nguyên nhân từ phía gia đình. Người đàn ông vô tâm đã để lại hậu quả chỉ một mình người con gái gánh trọn. Xong cuộc tình, anh ta phủi tay trơn tru không còn dấu vết. Cái mà anh ta để lại làm khổ một đời con gái. Bao nhiêu cuộc tình vụng trộm như thế đã xẩy ra, để lại trong dân gian những tiếng thở dài não nề, hờn giận của những phụ nữ không chồng mà có con vì trót yêu, vội tin và dại khờ, nông nổi.
                                    Rồi mùa toóc rạ, rơm khô
           Nghe lời ru con của Hương, không ít người nao nao buồn, thương những mối tình bất hạnh, cảm thông với những cô gái chân quê nông nổi vì yêu mà dang dở cuộc đời. Những câu chuyện tình trái ngang như thế đã từng hiển diện đó đây.  
           Do có họ hàng nên gia đình phú ông thương tình cho Hương một đám đất nhỏ đủ làm một túp lều cho hai mẹ con trú ngụ. Đứa con gái lớn lên chỉ quẩn quanh theo mẹ đến nhà phú ông làm thuê. Tuy còn nhỏ nhưng nó đã biết những công việc mẹ từng làm. Thời buổi khó khăn, dưới sự đô hộ của thực dân, phong kiến, kiếp nông dân cha truyền con nối việc đồng áng lam lũ, rồi đi làm thuê vì đất ruộng hầu hết tập trung trong tay kẻ giàu có.
           Khi Bưởi - đứa con gái của Hương đến tuổi mười sáu, nhưng trông đã là dáng dấp thanh nữ - Nó thay mẹ đi làm cho nhà phú ông, để mẹ ở nhà nuôi con lợn và chăm sóc luống rau, mấy con gà. Cuộc sống túng thiếu triền miên nhưng nhờ tằn tiện nên hai mẹ con vẫn đắp đổi tháng ngày.
+   +    
+
          Thường là đứa con trai của Lường nay đã khôn lớn. Nó làm thay bố những công việc nặng nhọc. Năm ấy trời hạn hán, mất mùa, nạn đói lan rộng trên nhiều làng quê. Trong hoàn cảnh đó, Lường đã để đứa con trai của mình đi làm thuê cho nhà phú ông ở huyện Yên Mỹ. Theo địa chỉ bố bày vẽ, Thường đi gần một nửa buổi mới đến đúng nhà phú ông. Thấy chàng trai dáng vóc nở nang, tràn đầy sinh lực, gia đình phú ông rất mừng, nhận ngay vào làm ở đội thợ cày. Dạo này, người làm thuê hết đợt đến đợt khác, toàn người góp, ai cũng lo làm để xong đợt nhận tiền và gạo đem về nuôi gia đình đang lúc khó khăn, họ ít quan tâm đến gốc gác của nhau. Có nhiều người chỉ làm mươi ngày hoặc một vụ rồi không trở lại nữa. Anh chàng Thường cũng ở trong hoàn cảnh ấy nên hàng ngày chăm chỉ cày bừa cho chủ để mong được trả công xứng đáng. Đây là giai đoạn cái ăn, cái mặc khổ cực quá nên người ta phải quần quật, không có thời gian nghỉ chuyện này chuyện nọ. Chủ nhà do nóng việc thời vụ nên đã tổ chức làm thông tầm cả trưa và trả thêm tiền công cho người làm. Mặc dù vất vả, mệt nhọc nhưng có thêm tiền thì ai cũng thích và cố rán. Do làm quá sức, Thường bị ốm nhưng vẫn không chịu nghỉ. Chủ nhà biết vậy liền bảo con Bưởi nấu cho Thường nồi lá xông để về đêm xông cho chóng lành bệnh. Nhờ nồi lá xông ấy mà Thường khỏe hẳn. Trong đoàn người làm thuê, Thường và Bưởi là trẻ nhất, rất xứng đôi. Người ta hay ghép tình duyên cho cặp trai gái này. Kể ra cũng hay. Nếu chúng thành đôi thành đũa cũng là tốt thôi. Khi mọi người trêu đùa, anh chị đỏ mặt lên, lảng đi chỗ khác. Thực ra, anh chị đã có cảm tình với nhau nhưng chưa ai dám thổ lộ nổi lòng.
           Nhà của Bưởi ở gần khu gia cư của phú ông. Có một hôm, sau khi ăn tối xong, Bưởi mạnh dạn rủ Thường đến nhà mình chơi. Thường phấn khởi theo cô gái về nhà. Mặc dù ánh đèn dầu hỏa mờ tỏ nhưng bà Hương vẫn nhận rõ được mặt người con trai. Vốn là người cùng cảnh ngộ nên họ nói chuyện thân mật như người trong một nhà. Thường kể với bà Hương rằng, bố của mình ngày xưa cũng đi làm cho nhà phú ông ở huyện này. Nhiều nhà giàu trả tiền cho người làm thuê rẻ mạt. Riêng nhà phú ông ở đây có nới tay hơn trong việc thanh toán cho nhân công và đối xử với người làm đỡ hơn nên người nghèo ở xa cũng tìm đến. Bà Hương đã đoán Thường là con trai của Lường. Ngay khuôn mặt, dáng hình của nó đã chứng minh rất rõ. Để khẳng định suy đoán của mình, bà Hương hỏi:
          - Bố cháu tên gì?
          - Dạ, bố cháu tên là Lường ạ.
           Thế là đúng rồi. Như vậy Thường và Bưởi là anh em cùng cha khác mẹ. Chúng nó đều có chung dòng máu. Nhìn kỹ sẽ thấy Thường có những nét giống Bưởi, nhất là đôi mắt và cặp lông mày. May mà trời đất xui khiến nên con Bưởi đưa thằng Thường về đây, nếu không thì phải ân hận một đời vì chuyện loạn luân. Tất cả đều do cuộc tình vụng trộm của bà tạo ra. Từ trước đến nay, bà không cho Bưởi biết bố nó là ai. Với lại, ngay chính bà cũng không biết quê hương, bản quán của người đàn ông ấy nữa là... Bà cảm ơn trời phật thương tình nên đã cho bà biết để ngăn chặn mối tình mà con gái sắp bước vào. Thật hú hồn, hú vía. Hôm sau, bà buộc lòng kể cho con gái nghe toàn bộ về chuyện tình ngày xưa của mình. Bưởi nghe xong thật sự bàng hoàng. Cũng may, anh chị chưa hề có gì với nhau, kể cả một lời tỏ tình. Nghe chuyện mẹ kể, Bưởi bị xốc. Cô nằm lỳ trên giường, không đi làm. Mẹ hỏi gì cô cũng im lặng. Bà Hương cứ nghỉ con ốm, đi kiếm lá để sắc cho nó uống. Đến trưa, Bưởi nói với mẹ, giọng buồn bã:
          - Con không đi làm bên ấy nữa. Từ mai, mẹ xin cho con làm ở nhà ông Quỳ dưới xóm Riềng cũng được. Con nghe nói nhà ấy đang cần người làm đất trồng đậu xanh cho kịp vụ. Nghỉ ở nhà, tiếc lắm.
          Bà Hương hơi phân vân một chút rồi cũng đồng ý vì con gái có cái lý riêng của nó. Bưởi không muốn đến nhà phú ông vì sợ sẽ gặp Thường là anh trai nhưng cô đã thầm yêu trộm nhớ trong lòng từ khi Thường đến làm cho nhà ấy. Hiểu được tâm trạng và sự khó xử của con gái, bà nói:
          - Con nghĩ cũng phải. Chiều nay mẹ đến nhà ông Quỳ hỏi việc cho con.
          Bưởi còn dặn:
          - Mẹ nhớ sang bên nhà phú ông báo con nghỉ làm kẻo họ trách, vì họ đàng hoàng với mình, chứ con không đến bên đó nữa đâu, ngại lắm…
          - Ừ, mẹ hiểu rồi!
          Từ khi Bưởi khôn lớn, bà Hương không đi làm thuê nữa. Do cuộc sống kham khổ, trông bà gầy yếu và già trước tuổi. Nét thanh xuân của cô thôn nữ trẻ trung, đầy đặn thuở nào nhanh chóng phôi pha theo thời gian bươn chải khổ cực. Mọi chuyện vui buồn bà đều gửi gắm vào đứa con gái ngoan hiền. Bưởi thương mẹ, chưa bao giờ làm mẹ phải buồn khổ vì mình cả. Cuộc sống tuy đạm bạc nhưng mẹ con đùm bọc nhau đầm ấm. Túp lều tranh với chiếc giường tre, cùng một vài thứ lặt vặt không đáng giá, nhưng bếp lửa vẫn ngày ngày ba lần tỏa khói, đó là cái hồn của làng quê đất Việt dân giả, cho dù đói khổ nhưng không ai quay lưng lại với xóm làng, con cái không chê mẹ cha nghèo khó. Bưởi lớn lên trong hoàn cảnh ấy nên càng thương mẹ gần trọn cuộc đời rau cháo, nuôi con nên vóc dáng hình hài như hôm nay…
          Thế là hôm sau, Bưởi lặng lẽ đi làm thuê cho nhà khác. Vắng Bưởi, Thường thấy trong lòng trống trải, bâng khuâng vô hạn. Cả nhóm thợ cấy cũng buồn lây, chị em ít cười nói như mọi khi.
          Khi xong vụ cày cấy, trước khi về quê, Thường tìm đến nhà Bưởi để tạm biệt người con gái đã vô tình gieo vào tâm hồn mình những con sóng xao động không yên. Ngôi nhà đơn chiếc, cô quạnh. Trưa ấy, Bưởi nghỉ lại nơi làm. Tiếp chàng trai là mẹ của Bưởi. Bà Hương nói với chàng trai rằng:
          - Con Bưởi mới đi lấy chồng ở xa…
          - Khi nào Bưởi về nhà hở bác?
          Bà Hương phải nói dối:
          - Nhà chồng neo người, chắc lâu nó mới về thăm bác được.
          Trong thâm tâm, bà Hương muốn chàng trai đừng đến làm thuê cho nhà phú ông nữa, để con gái của bà lại trở về làm bên ấy cho mẹ con được gần nhau. Bà muốn mọi chuyện bí mật của bà và “người ấy” phải được giữ kín mãi mãi. Nghe bà mẹ nói thế, Thường thấy lòng nặng trĩu, hụt hửng. Anh ra về mang theo nổi niềm thương nhớ mông lung. Sẽ chẳng bao giờ anh đến nơi này nữa. Vì còn gì cuốn hút, thúc giục sự hăm hở của chàng trai khi hình bóng người con gái kia đã biền biệt phương nào? Chàng trai ấy không hay biết chuyện gì đã xẩy ra giữa bộ ba: Bố - bà Hương và Bưởi. Mọi chuyện sẽ đi vào quên lãng theo năm tháng rêu phong. Xa mặt- cách lòng, mọi vui buồn rồi cũng sẽ phai nhạt dần trong ký ức.
           Thế rồi, Bưởi cũng lấy chồng khi bước sang tuổi mười chín. Chồng của Bưởi là một thanh niên cùng làng. Nhà anh ấy nghèo, đông người nên về ở rể nhà vợ. Tuy gia cảnh nhà vợ cũng nghèo khó nhưng họ thương yêu nhau, sống hạnh phúc trong ngôi nhà tranh vách đất lúc nào cũng vui vẻ, ấm cúng. Hàng ngày, vợ chồng Bưởi đi cày thuê, cấy mướn, bà Hương ở nhà chăm đứa cháu ngoại. Cứ ngỡ trái tim người bà đã nguội lạnh về cuộc tình sâu đậm ngày xưa. Nhưng từ khi thấy mặt đứa con của người ấy, bà Hương chạnh lòng nhớ lại tất cả. Nỗi buồn được khơi lại, tươi roi rói, khiến lòng bà nhức nhối. Chuyện ái tình làm khổ con người, nó có chừa độ tuổi nào đâu? Tình yêu mãnh liệt, ngất ngây của bà chỉ xuất hiện trong một thời khắc ngắn ngủi, không còn tái diễn thêm lần nào nữa. Bà chịu  thiệt thòi quá lớn của phận “làm vợ”. Bà nâng niu, gìn giữ những giờ phút êm đềm lắng đọng của kỷ niệm xưa. Tất cả tái hiện rất rõ ràng:
           …Cái gò đất hoang cỏ mọc um tùm giữa đồng vào những đêm hò hẹn. Một tình yêu nồng nàn của đôi trai gái Lường và Hương diễn ra say đắm. Anh chị đã dành trọn cho nhau… để có con Bưởi bây giờ…  sao mà quên được? Đó là hạnh phúc ngọt ngào, đẹp như ánh hào quang lóe lên trong cuộc đời để rồi cay đắng, ngậm ngùi hết một thời con gái đầy khao khát của bà. Thôi, cũng qua một kiếp người, biết trách ai? Âu cũng bởi mình duyên phận mỏng manh…
          Những lời ru Bưởi ngày trước, bây giờ bà Hương lại hát ru cháu ngoại. Cứ chiều chiều, khi ánh nắng không còn gay gắt, gió nồm từ phía biển ùa vào mơn man da thịt, người ta nghe từ nếp nhà tranh trong xóm nhỏ cất lên tiếng à ơi của người bà, lúc trầm lúc bổng, như niềm riêng thao thiết đã từng nổi chìm, vật vã cùng năm tháng tủi hờn:
                             ( à ơi…) Rồi mùa toóc rạ…rơm khô…(ơ ơ ơ)
                   Bậu về quê Bậu…(à à ơi…)biết nơi mô…mà tìm…(à ơi…hời…)
          Bậu là cách gọi của người miền Trung và Nam bộ, còn người miền Bắc gọi là bạn. Rồi mùa, bậu về quê bậu, cũng giống như bóng chim, tăm cá biết đâu mà lần? Người đâu mà vô tâm thế? Sao mà bạc tình bạc nghĩa đến thế, hỡi ai? Lời ru như hóa thạch, tạc vào lòng người, găm vào năm tháng làm chảy máu con tim thổn thức. Lời ru cứ ngân nga, đồng vọng khôn nguôi. Đứa trẻ ngủ say trong tiếng ru hời và nhịp nôi đưa kẽo cà kẽo kẹt như tan vào ngọn gió nồm nam rười rượi đất trời. Nhưng lời ru có phải dành cho con trẻ đâu? Nó còn thao thức bồng bềnh, da diết, sao mà thấy chua cay, chát đắng, trách người một, trách mình mười. Tất cả trải ra, nghe nhoi nhói trong tâm hồn và gợi lên bao nổi niềm trắc ẩn chốn nhân gian…

                                                                                     

                                                                            
MẸO GIỮ CHỒNG

          Có chồng thì phải giữ. Chuyện nghe xưa như trái đất nhưng không bao giờ cũ, nó trở thành đề tài muôn thuở của xã hội. Cái gì thì có thể san sẻ, nhường nhịn cho nhau được, chứ đố phụ nữ nào phát hiện chồng mình có máu họ Sở mà lại để yên? Liệu hồn đấy. Không tin thì cứ hỏi cả trăm phụ nữ mà xem, họ đều có chung một ý kiến bất di bất dịch: “chồng là thứ tài sản đặc biệt của ta, không ai được đụng vào. Của ta thì ta giữ, đừng giữ nhầm của thiên hạ là được”. Tất nhiên, ở đời ối chị cố tình giữ “nhầm” chồng người khác mà chẳng ai hay. Thế mới đau chứ. Cũng có người biết, nhưng họ dại gì mà xen vào chuyện riêng tư người khác cho mệt và rắc rối? Vậy nhưng chuyện ngoại tình người ta hay nói đến giới đàn ông. Trong thực tế, nhiều anh chồng  thích “của lạ” nên chị em phải cảnh giác và tìm mọi cách giữ chặt. Nếu không như thế thì sẽ mất chồng hoặc có cô gái khác bí mật nắm giữ chồng mình là cái chắc. Chị em cứ nghĩ làm như vậy thì sẽ yên tâm quản lý được đức lang quân của mình.
          Lạ gì tính đàn ông, thấy gái đẹp là mê, hay trêu ghẹo, tán tỉnh. Mà nhiều phụ nữ cũng khó hiểu, khi đã có chồng mà thấy đàn ông để ý đáng ra từ chối thẳng thừng thì làm gì sinh chuyện lôi thôi, đằng này coi đó là niềm tự hào, cứ để xem sao?  Nếu đàn ông có lời khen về nhan sắc thì chị em tin ngay, cảm thấy rất khoái. Đàn ông biết phụ nữ “yêu bằng tai” nên lúc tán tỉnh những chị đã có chồng, họ cứ khen hết điểm này sang điểm nọ, mất gì mà không khen cho đẹp lòng nàng, khiến cho chị em sướng lên, cứ tưởng thật, dần dần bị sa ngã.  Không ít gia đình vì chuyện đó mà vợ chồng hục hặc, không hạnh phúc, có khi dẫn đến ly hôn. Chị em nào có tính lẳng lơ thì hãy coi chừng, rất dễ xiêu lòng trước những gã đàn ông giỏi “nịnh đầm” đấy. Kết cục chả hay ho gì đâu. Loại đàn ông mồm miệng liến thoắng, ba hoa tán tỉnh phụ nữ là kẻ chai mặt, thay tình nhân như thay áo, đừng có tin mà khi dính vào là phiền phức lắm. Chả vì thế mà người ta hay nói: “Nhất đẹp trai, nhì chai mặt”để chị em liệu mà cảnh giác kẻo mắc mưu những gã đàn ông như vậy.
          Trong xóm có ba nàng hình như cùng họ hàng xa với ả Hoạn Thư, đó là cô Thắm, cô Thơm và cô Hoài. Các cô hay ghen và luôn giám sát chồng từ mỗi bước đi. Các cô cùng chung dòng máu ghen nên thân nhau. Trong ba cô thì riêng Hoài có một cách ghen và phương pháp giữ chồng siêu hơn hai cô kia nên gia đình vẫn êm thấm, hạnh phúc. Mỗi cô có một mẹo giữ chồng, không ai bày cho ai. Cô nào cũng nghĩ cách của mình là thượng sách. Đối với Thắm và Thơm, cứ chồng ra khỏi nhà là các cô tìm cách theo dõi xem chồng có quan hệ với cô nào không, có liếc mắt đưa tình với ả chân dài nào không? Ngày nay, giao lưu xã hội rộng nên các cô rất sợ chồng mình có tình ý với những phụ nữ tươi trẻ xung quanh. Hai anh chồng của Thắm và Thơm khổ sở vì chuyện vợ hay ghen bóng ghen gió, nhất là anh chồng của Thắm làm việc cơ quan nhà nước. Khi về nhà, trên người của chồng có mùi hơi lạ một tý là y rằng vợ vặn vẹo đủ điều. Mùi xà phòng rửa tay ở nhà vệ sinh cơ quan cũng đã làm anh khổ sở khi bị vợ lục vấn cho ra nhẽ. Người ta bảo ghen là thiên tính bộc lộ tình cảm người vợ do quá yêu chồng. Nhưng có người bảo ghen là thứ bệnh hoạn khi người phụ nữ ích kỷ, không tin chồng, lúc nào cũng nghi ngờ chồng, chưa hẳn xuất phát từ tình yêu. Nghĩ lại, nhận xét nào cũng có cái lý của nó. Bởi vì trong thực tế có nhiều anh chồng hay lăng nhăng nên chị em ghen là phải. Các chị nói với nhau rằng: “ Thà ghen nhầm còn hơn bị chồng xỏ mũi. Chồng mình thì mình ghen, đừng ghen chồng người khác là được”. Trong cuộc sống, có những chị em ghen ngược với chồng người khác mới thật buồn cười. Nhưng chuyện đó phức tạp lắm, nói ra ở đây không tiện.
          Có một hôm, chồng Thắm từ cơ quan về, để cuốn sổ công tác giữa bàn, quên cất vào cặp. Lúc anh  vào phòng tắm, chị vợ tò mò mở trộm sổ ra xem. Chị ta mở nhanh rồi đọc được phía cuối sổ có ghi hai bài thơ, mà theo chị đó là thơ của những kẻ hay trăng hoa, luôn luôn nghĩ xấu về vợ, coi vợ là đối thủ. Bài thơ thứ nhất:
                    Vợ là địch,
                   Bồ là ta
                   Chiến sự diễn ra
                   Ta về với địch.
                   Sống trong lòng địch
                   Vẫn nghĩ đến ta
                   Đám cưới, đám ma
                   Ta đi với địch
                   Tham quan, du lịch
                   Ta đi với ta
                             Ha ha ha…
          Đọc xong bài thơ, tức lộn ruột. Thắm ghét nhất là mấy tiếng “ ha ha ha” cuối bài thơ. Phản bội vợ mà cười khoái chí thế à? Thật khốn nạn! Đã vậy lại thêm bài thứ hai nằm ngay bên dưới như thách đố trêu ngươi, cũng nội dung nói về đàn ông ngoại tình mà lại hết sức khôn ngoan, ăn vụng biết chùi mép mới chết chứ. Chị ta hoa mắt khi đọc từng câu thơ:
                   Đàn ông vốn thích ăn quà
                   Ăn xong rồi lại về nhà ăn cơm
                   Nhai cơm như thể nhai rơm
                   Nên cần kết hợp ăn cơm ăn quà
                   Kết hợp cân đối hài hòa
                   Khéo chùi sạch mép, cửa nhà ấm êm.
          Tranh thủ chồng đang tắm, Thắm ghi vội hai bài thơ cất đi để làm bằng chứng sau này. Đêm ấy, chị ta chất vấn làm cho chồng phân bua đến mệt. Anh ta bảo lúc uống cà phê, có một anh bạn đọc hai bài thơ cười cho vui, anh chép lại định bụng đọc cho mấy người bạn cùng nghe, chuyện đàn ông hay tào lao với nhau ấy mà. Cô vợ vẫn ấm ức về hai bài thơ đó. Cô cứ nghĩ: Nếu là người không có tính lăng nhăng thì chép thơ ấy làm gì? Có cô vợ như thế cũng đến là khổ, nếu không nói là thật khó sống. Từ hôm nắm được hai bài thơ ấy, tình cảm vợ chồng chùng xuống, ngột ngạt. Lâu lâu, chị ta lại đem thơ ra đọc để rồi nảy sinh những suy diễn lung tung. Sự ghen tuông và nghi ngờ chồng ngày càng tăng tiến. Chị ta không theo dõi chồng hàng ngày được nên cậy nhờ một người bạn gái làm gần cơ quan anh ta theo dõi hộ. Mọi tính cách của chồng, chị ta đều tiết lộ cho bạn gái biết hết. Vô tình, chuyện riêng nhà mình lại phơi bày cho hàng xóm biết tường tận. Kể ra cũng không khôn. Lúc đầu chị này rất trung thành với sự nhờ cậy của Thắm. Mọi tin tức của chồng, chị vợ tuy ở nhà nhưng nắm rất rõ. Chị ta yên tâm về ông xã của mình không có tính trăng hoa. Mà chồng của Thắm vốn là người đàn ông chỉ biết chăm lo gia đình, không bao giờ xao nhãng trong tình cảm vợ chồng. Cứ hết giờ làm ở cơ quan là anh về với vợ con, nề nếp ấy đã giữ cho gia đình hạnh phúc bao nhiêu năm qua. Thắm tự hào về chồng mình nhưng không nói ra.
           Người bạn gái ấy thấy chồng Thắm hiền, thật thà, có nhiều nét đáng yêu mà chồng mình không có. Chồng của chị ta lái xe cho một doanh nghiệp tư nhân, tính cục và gia trưởng, nhiều khi tát tai vợ nảy đom đóm cũng do anh ta hay tư tình với mấy cô công nhân trẻ nên vợ bực, có những lời qua lại khó nghe, vậy là xung đột. Từ chỗ làm nhiệm vụ “thám tử”, chị ta có cảm tình với chồng Thắm. Chị ta tiết lộ chuyện đang theo dõi cho chồng Thắm biết. Anh ta chỉ cười và cũng không trách móc vợ. Anh lạ gì tính ghen đã có trong máu của vợ mình từ khi chung sống với nhau. Biết có người theo dõi nên chồng Thắm càng tỏ ra đứng đắn, nghiêm túc. Nhưng chuyện đời không đơn giản như thế, nhất là chuyện đàn ông và đàn bà. Thắm rất yên tâm khi có “tay trong” giám sát chồng từng ngày. Nào ngờ, người giám sát ấy lại thầm đem lòng yêu chồng của bạn. Mà đàn bà đã yêu thì họ tìm cách chiếm lấy tình cảm đàn ông. Do sống không hạnh phúc với chồng nên chị ta muốn có người chia xẻ. Qua những lần tâm sự về cuộc sống riêng tư nhiều uẩn khúc của mình, chị ta đã làm chồng Thắm mủi lòng. Có mấy lần chị ta gục vào lòng chồng Thắm khóc. Thế là giữa họ nảy sinh mối đồng cảm, rồi chuyện yêu đương nãy nở tự lúc nào không hay. Đàn ông cũng dễ lạt dạ trước phụ nữ có chuyện buồn như thế. Dù muộn mằn nhưng cuộc tình diễn ra dịu dàng, mãnh liệt mà đằm thắm, không ai biết được. Họ yêu nhau nhưng vẫn giữ hạnh phúc gia đình của mình. Đó là tình yêu của những người đứng tuổi, từng trải chuyện đời. Họ yêu nhau mặn mà ngấm ngầm được vài năm thì chuyện bị lộ.
          Hôm ấy, do tình cờ Thắm lên huyện mua mấy thứ lặt vặt, bất ngờ bắt gặp hai người đang ăn trưa với nhau ở quán. Khi tìm hiểu thì Thắm mới hỡi ôi, cặp tình nhân này thường xuyên cặp kè, tình tứ như vậy. Có khi trong giờ làm việc, anh chị liên lạc qua điện thoại di động, rủ nhau đi đâu không rõ. Không khí gia đình của Thắm từ đó nặng nề, vợ chồng mâu thuẫn sâu sắc. Sự đa nghi đã thường trực trong lòng người vợ vốn sẵn máu ghen, nay tăng lên bội phần. Thắm căm thù cô bạn mà mình đã tin tưởng nhờ cậy bấy lâu. Đúng là gửi trứng cho ác. Hai vợ chồng sống lạnh nhạt chẳng khác gì đối phương chờ sơ hở của nhau là bùng nổ chiến tranh.
          Trong thực tế, đàn ông cũng ghen vợ ghê lắm. Nhưng đàn ông ghen không giống phụ nữ. Khi đàn ông ghen kèm theo sự đổ vỡ trong gia đình, dẫn đến hậu họa đáng sợ không lường được. Xin mách nhỏ với chị em phụ nữ rằng, đàn ông rất ích kỷ trong chuyện vợ chồng còn hơn phụ nữ nhưng họ không thể hiện ra bên ngoài đó thôi. Tính đàn ông là thế. Chị em đừng nghĩ đàn ông không hay ghen rồi lẳng lơ với trai là nguy hiểm đấy. Chồng mà bắt được vợ ngoại tình thì coi như xong phim, mỗi người một ngả, và sự chê cười của người đời dồn hết lên người vợ, thế mới oan uổng chứ. Trong chuyện ngoại tình, người ta hay chê trách phụ nữ, còn đàn ông lại dễ dàng được tha thứ. Có người còn bảo: Ối dào, đàn ông ấy mà! Kể ra cũng không công bằng nhưng đó là sự thật. Chị em phải liệu mà giữ mình kẻo ân hận một đời do có những phút giây nông nổi ngả vào vòng tay thằng đàn ông khác.
          Còn với Thơm, hai vợ chồng đều làm ruộng. Có tính hay ghen nên thấy chị em nào buông lời đùa nghịch với chồng mà anh ta lên tiếng đối đáp lại là chị ta sị mặt, không thích, về nhà đay nghiến chồng rất khó chịu. Vốn không muốn tình cảm sứt mẻ, anh chồng đành im lặng cho êm ấm gia đình. Anh này bị cánh đàn ông liệt vào hàng sợ vợ nhất xóm. Anh ta đành cười xòa, chấp nhận. Nhưng anh ta tâm sự với mấy bạn thân: “Tớ sợ vỡ chứ chả sợ vợ. Cứ chịu nhẫn nhục cho xong chuyện, có chết ai đâu?”. Hàng ngày đi làm, vợ ở đâu thì chồng ở đấy, dễ quản lý. Trong thôn tổ chức chơi bóng chuyền thì anh chị đều đi với nhau, vì cả hai là cầu thủ bóng chuyền nam, nữ. Anh ta đi đá bóng đội nam, chị vợ cũng bám theo cổ vũ. Nơi nào có mặt chồng là hình bóng vợ thấp thoáng bên cạnh. Bên ngoài nhìn vào cảm thấy họ rất hạnh phúc, nhiều người mơ ước được như thế. Anh chồng bị trói buộc bằng sợi dây vô hình từ khi cưới cô ấy về, không gỡ ra được, đã trở thành thói quen, mất hết tự do. Các cô gái trêu đùa, có vợ theo dõi nên anh ta không dám hó hé đùa lại hoặc nở nụ cười xã giao thân thiện. Người ta hay nói đùa:“Đàn ông từ khi lấy vợ là tự nguyện đeo còng vào tay” cũng không sai. Nghĩ mà buồn. Cô vợ cho đó là cách giữ chồng hay nhất và thấy rất yên tâm, phấn khởi. Cô này to béo nhưng có tính lười, chồng rủ đi bộ buổi sáng cho khỏe thì không đi, cứ nằm lỳ trên giường ngáy khì khì. Thế là anh ta đi bộ một mình với mấy người trong xóm. Chị vợ chẳng hề bận tâm, yên chí ngủ cho đã giấc. Từng nhóm đi bộ buổi sáng rất đông, đã trở thành phong trào rầm rộ ở nông thôn. Đàn ông, phụ nữ, trẻ già đều đi bộ. Những sáng tinh mơ, người đi bộ trên các nẻo đường nhộn nhịp như hội.
           Ở xóm bên có một cô góa chồng ba năm rồi, đã có hai con, trong người dậm dựt khó chịu nhưng không bộc lộ ra bên ngoài, sợ xấu hổ nên âm thầm nén nhịn. Cô ta cũng thường xuyên đi thể dục buổi sáng cho nhẹ nhõm trong người. Qua những lần đi bộ, thấy chồng Thơm cũng hay hay, có những nét hấp dẫn, thế là cô tìm cách gần gủi bắt chuyện. Vậy là anh chị thích nhau. Thú thật, lúc đầu chồng Thơm thấy lo và sợ. Anh ta không dám dây vào “thứ của nợ” dễ làm tan nát hạnh phúc gia đình, mặc dù trong bụng vẫn thấy thích. Nhưng cô gái trông cũng mướt mắt, đang tuổi hồi xuân phơi phới, nghĩ cũng tiếc. Sáng nào đi bộ cô ta cũng điểm vào người tý nước hoa, mặc quần lửng, khoe cặp giò trắng trẻo mịn màng, lộ rõ bộ mông căng ninh ních trong chiếc quần mỏng hơi chật đầy khêu gợi, áo lót mặc hở cả hai bờ vai và khuôn ngực đầy đặn, hai bầu vú đẩy đà nịt chặt mà cứ nẩy nẩy theo nhịp bước như khiêu khích, chào mời. Cô này biết cách tạo cho anh ta chú ý đến cơ thể tràn trề sinh lực của mình. Từ khi lấy vợ, bị “quản thúc” nghiêm ngặt, giờ đây mới thực sự tự do. Hình ảnh cô hàng xóm đã làm đảo lộn suy nghĩ, vì không có vợ bên cạnh nên anh ta thoải mái vô cùng. Anh đi bộ phía sau, thỏa thích ngắm kỹ cô gái trước mặt, thỉnh thoảng buông lời đùa cợt. Cô gái cũng đáp lại những lời tình tứ, biểu thị sự đồng tình, kèm theo những cái liếc mắt, nhíu lông mày đầy bí ẩn. Mùi nước hoa thoang thoảng mới quyến rủ làm sao! Thế rồi anh chị dính nhau, cứ đêm nào cũng mong trời chóng sáng để được đi bộ, có cơ hội cặp kè tại nơi hẹn hò. Anh chị hẹn nhau đi bộ sớm hơn, chỉ đi lẻ hai người. Họ thường xuyên đưa nhau vào vùng nhiều cây rậm, hú hý xong xuôi là tách riêng mỗi người một đường, trà trộn vào những nhóm đi bộ về nhà. Họ rất khôn ngoan. Cả thời gian dài tằng tịu với nhau mà chả ai nghi ngờ gì cả. Sau hơn một năm đi thể dục buổi sáng thì chị ta sinh con. Thế là chồng Thơm không muốn đi bộ nữa. Vợ dục thì anh ta bảo: Tạm nghỉ một thời gian rồi đi lại. Cô vợ chả cần quan tâm.
           Khi đứa con của chị kia hơn một tuổi thì có dư luận đứa con trai chửa hoang đó giống đúc chồng Thơm, nhất là đôi chân vòng kiềng, da ngăm ngăm đen và hai ngón tay út cong cong như có tật. Nghe lọt tai, Thơm đến nhà chị ấy xem thực hư thế nào thì lời đồn quả không sai. Thơm chưa tin, vì chồng cô có bao giờ thoát khỏi tầm kiểm soát của vợ đâu? Cuối cùng chị ta bắt nọn chồng. Chị ta quả quyết đó là con của chồng. Chị ta dọa:
          - Cô kia đã thừa nhận cả rồi. Liệu mà khai hết đi.
          Anh chồng nhát gan lại thật thà nên công nhận chuyện đi bộ sáng sớm đã quan hệ với cô ấy tại rú Trằm cuối làng. Anh còn tiết lộ với vợ có mấy cặp trong xóm mà anh ta thường xuyên gặp tại rú đó, nói ra sợ đổ vỡ hạnh phúc gia đình họ. Anh chồng còn đổ lỗi cho người phụ nữ kia chủ mưu trước, rủ rê anh ta nên mới sinh chuyện. Càng nghe, cô vợ càng căm ghét bọn đàn ông đểu cáng. Thơm lồng lộn, xỉ vả chồng, định làm to chuyện, nhưng rồi nghĩ lại vợ chồng chỉ sinh 2 con gái, nay anh ta ngoại tình được đứa con trai, đành ngậm bồ hòn làm ngọt, nói ra chỉ để thiên hạ cười xấu mặt. Vì chuyện này mà Thơm ốm mất mấy ngày, người rạc hẳn. Từ đó, chị ta cảnh giác chồng từng bước, không cho anh ta đi thể dục buổi sáng nữa. Thế mới khổ chứ. Có người gọi chồng đi bộ, chị vợ trong nhà nói vọng ra:“Tý nữa anh ấy mới đi”. Sáng nào chị ta cũng đay nghiến chồng:
          - Chưa đã thèm thì cứ đi đi, đây không cấm. Còn mấy con cụt đọt dững mỡ đang chờ ở rú Trằm ấy…   
          Anh chồng là kẻ có tội nên chỉ biết im như thóc. Nếu cô vợ không phát hiện chuyện ngoại tình của chồng, biết đâu anh ta cùng cô hàng xóm kia tiếp tục có với nhau những đứa con khác? Chả biết chuyện nhà Thơm có lộ ra ngoài không mà từ đó về sau, mọi người vẫn đi bộ buổi sáng ngày càng đông nhưng theo từng cặp vợ chồng cùng người trong gia đình. Những gã đàn ông có tính lăng nhăng buộc phải thu mình, không dám hẹn hò mấy em “cụt đọt” đi bộ thật sớm đến chỗ vắng người để dan díu. Hầu như mọi gia đình ngấm ngầm có sự cảnh giác chồng hoặc vợ hay có tính lợi dụng rèn luyện thân thể buổi sáng để tiện “ăn vụng”. Nhiều người biết chuyện nhưng để bụng, cười thầm một mình. Vui thật. Thời nay có những chuyện rất lạ mà ngày xưa không ai sáng tác nổi.
          Hai nàng hay ghen và tìm mọi cách giữ chồng đã dẫn đến sự bi đát hạnh phúc gia đình. Do quá ghen nên các chị nghĩ mọi thủ thuật giữ chồng, kết cục chả được ích gì. Hai nhà ấy như sống trong địa ngục. Một hôm, hai cô tìm đến nhau tâm sự, chia xẻ nỗi đau khổ. Cô nào cũng như người ốm dậy, phờ phạc đến tội nghiệp. Trong lúc buồn bã, cả hai rủ nhau đến nhà Hoài chơi. Đây là bộ ba ghen nhất xóm. Nhưng với Hoài, mọi người chưa hề nghe vợ chồng xung đột. Anh chị sống hạnh phúc như đôi chim cu, lúc nào cũng ở bên nhau. Anh chồng sau những giờ làm việc ở công ty là về nhà, quấn quýt bên vợ. Cô vợ không nghi ngờ chồng có chuyện mờ ám trong quan hệ nam nữ, mặc dù cô biết chồng mình hay vui tính nên công nhân ở công ty gần gủi, nhất là các cô nạ dòng. Chị vợ khôn khéo tìm cách giữ được chồng, không để xẩy ra tai tiếng, cuộc sống gia đình êm ấm, hạnh phúc thực sự. Khi bước vào nhà của Hoài, cả Thắm và Thơm ngạc nhiên vì trong phòng ngủ của vợ chồng Hoài có mùi nước hoa phảng phất, giống như phòng của đôi tân hôn. Hoài ở nhà mà trên mặt có điểm chút son phấn nên trông trẻ hẳn ra. Cùng lứa với nhau, cùng là nhà nông sao trông Hoài khác hẳn, lúc nào mặt cũng tươi tỉnh, không giống Thắm và Thơm ăn vận lòi xòi, mùi mồ hôi hăng hắc thường trực, gương mặt lúc nào cũng khó đăm đăm. Thấy Thắm và Thơm đến, Hoài mừng lắm. Nhìn cách ăn mang, trang điểm của Hoài, Thắm hỏi:
          - Cậu đang chuẩn bị đi đâu à?
          - Không.
          - Sao thấy cậu trang điểm như chuẩn bị đi chơi?
          Hoài cười:
          - Lúc nào mà tớ chẳng như thế. Có phải cứ ra khỏi nhà mới trang điểm và ăn vận đẹp hay sao?
          Còn Thơm Thì hỏi:
          - Con trai cậu sắp cưới vợ hay sao mà trang hoàng phòng đẹp vậy? Nước hoa gì mà thơm ghê?
          Hoài ngạc nhiên về những câu hỏi của hai bạn. Hoài giải thích:
          - Phòng vợ chồng thì lúc nào mà chẳng trang hoàng đẹp và thơm như thế. Đàn ông không chán vợ là họ muốn lúc nào vợ mình cũng đẹp, duyên dáng, có sự hấp dẫn nên tớ làm đẹp mình là vì anh ấy. Vợ làm cho chồng chán thì anh ta đi tìm thú vui nơi khác là điều khó tránh khỏi. Các cậu còn ngây thơ quá.
          Vui miệng, Hoài nói rất nhiều về chuyện quan hệ vợ chồng của mình. Thắm và Thơm vểnh tai nghe, rất ngỡ ngàng. Hoài bây giờ khác hẳn cô Hoài hay ghen ngày trước. Thắm uể oải nói:
          - Vì chồng cậu không theo mái nên cậu mới nói thế. Cậu sướng thật.
          Hoài bảo:
          - Chồng tớ cũng là đàn ông, có nhiều cô đeo bám lắm, nhưng tớ có cách giữ chặt anh ta.
          Thắm cho rằng Hoài chưa ở vào hoàn cảnh như mình nên mới vô tư như vậy, nếu vấp phải anh chồng hay máu gái sẽ biết lễ độ ngay. Thắm lấy hai bài thơ chép trộm trong sổ của chồng cho Hoài xem và bảo:
          - Cậu đọc đi sẽ biết. Chồng như thế có chấp nhận được không? Nếu là cậu thì đã nổi tam bành, có khi xé xác anh ta ra ấy chứ.
          Thắm nhìn mặt Hoài theo dõi thái độ có biểu hiện gì không. Xem xong hai bài thơ, Hoài phá lên cười:
          - Cậu lạc hậu quá Thắm ơi! Thơ vui theo kiểu này bây giờ nhan nhản. Sống mà không tạo ra nụ cười thì buồn tẻ lắm. Tớ cho cậu xem bài thơ còn hay hơn nhiều. Thơ này chồng tớ chép về cho. Bài thơ nói cả phụ nữ và đàn ông mới vui cơ. Hai vợ chồng cứ  nhẩm cho thuộc rồi cười mãi. Anh nào sáng tác kể ra cũng thông minh thật.
          Thắm vội chộp ngay bài thơ có đầu đề: “Vợ và mái” từ tay Hoài:
                   Vợ là cửa cái
                   Mái là cửa sổ
                    Nhà nhiều cửa sổ càng sang
                   Cửa cái ta vẫn đàng hoàng vào ra
                   Cửa cái là của nhà ta
                   Không chừng cửa sổ thằng cha láng giềng?
          Chờ Thắm đọc xong, Hoài cười hỏi:
          - Thế nào? Nếu chồng cậu có bài thơ này trong sổ tay chắc cậu lồng lộn như máy bay phản lực nhỉ? Chính cậu tự mua dây buộc mình, tự làm khổ mình một đời. Phụ nữ nào chả ghen, nhưng ghen như cậu dễ làm đổ vỡ hạnh phúc như chơi.
          Thắm bảo:
          - Loại thơ phú nhố nhăng vẽ đường cho hươu chạy. Không tin nổi đàn ông. Thế mà cậu cũng cười được? Đàn ông rặt một lũ bội bạc như vậy, phải quản lý họ thật chặt mới yên tâm được.
          Hoài vặn lại:
          - Cậu nói phải quản lý chồng thật chặt nhưng có quản lý được đâu? Còn đàn bà thì sao? Đàn bà là tốt cả hay sao? Đàn bà không biết ngoại tình à? Nhiều chị em có vừa vặn gì đâu. Có ả đêm đêm nằm cạnh chồng mà đầu óc mơ màng tới chồng của cô hàng xóm? Chuyện đó có hiếm đâu? Ai mặc kệ, còn tớ giữ chồng thì phải yêu chồng, chiều chuộng chồng đúng nghĩa làm vợ…
          Thơm xen vào :
          - Cậu có bí quyết gì mà nói oai thế?
          - Có chứ. Tớ tiết lộ cho các cậu bí quyết chiều chồng để lấy hết “vốn” của chồng nhé. Khi hết “vốn” thì họ phải quấn quýt bên vợ thôi. Nói nghe buồn cười nhưng tớ không đùa đâu. Chồng tớ rất khỏe, cái khoản ấy cũng được lắm. Nói ra các cậu đừng cười nhé. Chồng khỏe thì vợ có cách chiều để giữ chồng chứ.
          Thắm và Thơm nghe Hoài nói vậy cứ ngớ ra nhìn nhau, rồi nhìn Hoài chờ đợi nó bày cách lấy “vốn” của chồng như thế nào. Chuyện lạ đây. Hoài thủng thẳng kể một cách tự nhiên:
          - Các cậu biết không. Sáng nào chồng đi làm mà tối về thì không cần lo chuyện anh ta “bỏ vốn” chỗ khác, vì đến đêm sinh hoạt vợ chồng là biết ngay. Sáng nào anh ấy đi, có công chuyện phải ở lại cơ quan qua đêm thì trước khi ngủ dậy, tớ ôm riết anh ta, nũng nịu, vuốt ve khêu gợi. Thế là anh ta khoái lên, tự giác “chuyển hết vốn” cho vợ. Sau đó anh đi đâu tớ cũng yên tâm, chả sợ cô nào “ăn cắp vốn” của chồng. Mà đàn ông đứng tuổi như chồng bọn mình thì “vốn liếng” còn được là bao, chẳng dồi dào như hồi trẻ đâu mà phải lo thất thoát? Có khi ở cả tuần bên nhau mà chỉ bập bõm một đôi lần cho có lệ thôi. Chồng tớ trông béo tốt thế thôi nhưng cái chuyện ấy bây giờ có khi lại kém hơn chồng các cậu. Nhiều khi thấy anh đi làm về cứ ở nhà chơi bài với thằng con, tớ bảo đi loanh quanh đâu đó cho thư giãn mà anh không đi. Đàn ông là vậy đấy. Sống với chồng phải hiểu chứ. Đi buôn không có tiền, cũng như muốn đi với gái mà vợ lấy hết “vốn” là bó tay, chả làm ăn gì được. Các cậu nghĩ có đúng không? Biết ghen nhưng phải biết cách giữ chồng mới siêu chứ. Nhờ cách đó nên nhiều năm qua, tớ vừa giữ được chồng, vừa được chồng yêu thương thực lòng.
          Thơm buồn bã, ngân ngấn nước mắt:
          - Tớ chán lắm. Không khéo phải chia tay nhau. Càng nghĩ càng tức không chịu nổi.
          Hoài khuyên bạn:
          - Như thế được ích gì? Đời đâu còn trẻ nữa? Cậu có nghe lời một người thổ lộ tâm trạng sau khi dự phiên tòa ly hôn của người thân không:
                                       Hãy cố yêu nhau mà sống
                                       Mai rồi đời mình cũng qua?
          Chúng ta săp làm bà nội bà ngoại cả rồi. Hãy cho qua tất cả mà sống vui vẻ, để cho con cháu không tủi thân khi ông bà chúng cuối đời mà mỗi người một ngả, ê mặt lắm. Cứ nghe tớ đi.
          Hoài kể chuyện quan hệ vợ chồng của  mình không giấu giếm, cũng để an ủi Thơm.. Bí quyết ấy đúng là siêu. Hai cô bạn lắng nghe, ngớ cả người. Hoài còn vui vẻ dặn:
          - Chuyện tớ vừa kể, các cậu đừng nói ra ngoài nhé, ngại lắm.
          Đang tâm sự, tự nhiên hứng lên, Hoài chỉ vào Thơm rồi tủm tỉm cười:
          - Nếu như dạo nọ, Thơm muốn chồng không ngoại tình được thì trước khi đi bộ buổi sáng, cậu bắt anh ta trút hết “ vốn” cho cậu thì chả lo chuyện gì xảy ra cả.
 Cậu thấy dại chưa? Nếu vào tay tớ là khác rồi. Thôi đừng buồn chuyện đó nữa. Cũng do sơ suất thôi mà. Nếu cậu gặp tớ sớm thì hay biết mấy .
          Nghe Hoài nói như đùa, cả Thắm và Thơm đều phì cười. Chuyện kín đáo ấy chỉ có phụ nữ mới thổ lộ được với nhau thôi. Nghiệm lại thấy cũng có lý. Trông Hoài lúc nào cũng tươi trẻ, vô tư, cuộc sống gia đình ấm êm, chả lo chồng ngoại tình, chả cần rình mò theo dõi chồng đi đâu, đang làm gì? Thắm và Thơm bỗng thèm khát cuộc sống hạnh phúc của bạn. Mẹo giữ chồng của Hoài nói ra nghe ơn ớn thế nào ấy, chắc Thắm và Thơm không thể áp dụng được. Chuyện ấy còn phụ thuộc vào tình yêu, sự đồng cảm của cả hai người trong suốt quá trình chung sống. Mà Thắm và Thơm không tạo được những thứ đó trong cuộc sống vợ chồng từ lâu rồi. Bây giờ đã muộn. Nghĩ lại, phụ nữ có vô khối mẹo giữ chồng, chẳng có chuẩn mực chung nào cả. Chuyện phòng the tế nhị, của ai nấy biết.
          Khi chia tay hai bạn, Hoài còn vui vẻ tiết lộ thêm một chuyện ngoài lề:
          - Các cậu biết không, tớ hay ăn diện và trang điểm, thế mà mỗi khi tớ đi ra ngoài, có mấy tay đàn ông thấy vậy bám theo tán tỉnh, cứ tưởng tớ là gái chịu chơi, dễ sa ngã. Thật buồn cười. Về nhà, tớ kể lại với chồng. Anh ấy không ghen mà còn cười bảo:“Vợ anh có duyên thì mới có người thích chứ. Anh tin em mà. Cứ để cho chúng nó thèm cho vui. Mấy tay đàn ông cũng thật là ngố”. Từ khi nghe anh ấy nói thế, tớ giật mình, tự soát xét lại thói ghen tuông bóng gió của mình suốt một thời gian dài là vô căn cứ. Chồng tớ bắt tớ phải biết ăn diện, biết làm đẹp bản thân, khi đi ra ngoài là phải đàng hoàng, không giống nhiều ông chồng thấy vợ ăn mặc đẹp, điểm chút son phấn là trong lòng nghi ngờ, cảm thấy không ưa, luôn luôn cảnh giác mỗi khi vợ ra khỏi nhà.
          Thắm bảo:
          - Cậu bỏ được tính ghen chồng, giỏi thật. Tớ ấy à, đừng có hòng. Không ghen và không giữ là mất luôn.
          - Tớ vẫn ghen chứ. Cô nào mà loạng quạng với chồng tớ thì coi chừng. Tớ cũng là nữ nhi mà. Nhưng ghen bây giờ khác thời đang còn trẻ.
          Thì ra, tất cả phụ nữ đều ghen. Nhưng có chị bộc lộ trắng trợn làm chồng khó chịu, có chị kín đáo, khôn ngoan nên vẫn tạo được sự hấp dẫn với chồng, có chị còn tạo ra uy phong riêng làm cho chồng phải “sợ”, không dám lả lơi với người đàn bà khác. Đàn ông hãy liệu hồn mà sống cho đàng hoàng, nếu không sẽ phải đón nhận những cơn ghen như sấm sét của vợ giáng xuống thì cực thân lắm.
           Hoài còn bộc lộ những lời rất tâm đắc với hai bạn:
          - Vợ chồng là duyên số trời định rồi. Xấu tốt cũng là của mình. Trước mắt chồng, người vợ phải biết làm đẹp, cư xử thật dịu dàng, nhất là phải tôn trọng chồng. Có thế mới giữ được chồng. Tớ suy từ bản thân thì biết. Ghen thì lúc nào cũng u ám trong đầu, khổ lắm, tự giết chết tình yêu. Tớ ghen chồng còn hơn các cậu mà bây giờ biết tỉnh táo để giữ hạnh phúc gia đình thì biết thế nào rồi đấy.
           Sau khi tâm sự với Hoài, Thắm và Thơm chợt nhận ra một điều cốt lõi: Lâu nay vì ghen mà họ đẩy chồng ra khỏi vòng tay yêu thương, trống vắng sự quan tâm săn sóc của vợ. Người chồng trong tâm trạng lúc nào cũng bất an, lo chống đỡ với sự ghen tuông của vợ nên tỏ ra chán nản, mệt mỏi. Mọi mối quan hệ xã hội của chồng bị thu hẹp, nhất là với người khác giới, ngồi chơi với bạn cũng không yên, cứ nơm nớp lo vợ gọi về bất cứ lúc nào. Không ít đàn ông phải ở vào hoàn cảnh như vậy, thật khổ. Họ chỉ biết sống theo nghĩa vụ chứ không còn tình yêu lãng mạn vợ chồng nữa. Sự ích kỷ, nếu không nói là thiếu trách nhiệm, không chịu vun đắp cho tình yêu ngày thêm nảy lộc đâm chồi đã làm cho cuộc sống gia đình mòn mỏi, nặng nề và cỗi cằn theo thời gian, tất yếu sẽ dẫn đến kết cục nhạt phai tình nghĩa vợ chồng, không như buổi đầu ngọt ngào, say đắm. Cái buổi đẹp như thần tiên của “ hai nửa” thuở hòa hợp chung sống ấy đâu rồi? Muốn trách chồng, trước hết người vợ phải tự nhìn lại mình xem có gì quá đáng với chồng không? Rất nhiều người vợ chỉ dặn chồng: “Anh đi làm nhớ đến bữa về ăn cơm với mẹ con em cho đỡ buồn”. Thế là tự khắc anh chồng đi có khứ, về có hồi thành thói quen. Có người vợ chỉ bảo: “Dạo này tai nạn giao thông ghê lắm. Mình có tuổi rồi, ăn nhậu phải có chừng mực kẻo sinh ra nhiều chuyện không hay, vợ con khổ lắm, anh nhé”. Chỉ mấy lời của vợ mà anh chồng “biết sợ”, không say sưa quá đà với bạn bè sau mỗi lần hết giờ làm việc, nếu có công chuyện phải về muộn liền nhắn tin cho vợ con yên tâm. Mà thói đời, khi ăn nhậu sa đà là đi liền với bê tha, rồi nảy sinh chuyện này chuyện nọ, không loại trừ chuyện đi tìm niềm vui chỗ có mấy em ca ve lúc nào cũng sẵn sàng đón tiếp, ôm ấp.
          Trong cuộc sống vợ chồng có muôn vàn cách thể hiện sự quan tâm lẫn nhau để gìn giữ hạnh phúc gia đình. Phải biết thông cảm và chia sẻ với nửa kia của mình. Gìn giữ hạnh phúc gia đình, trách nhiệm và tình cảm lớn nhất, bao trùm nhất đều phụ thuộc vào người vợ. Bởi vì, người vợ còn có tấm lòng bao dung giống như tình cảm của người mẹ, đó là một thiên chức và quyền năng tối thượng của giới nữ mà đàn ông không thể thay thế được. Biết cách nắm được cái nửa kia của mình mà vẫn bảo toàn hạnh phúc gia đình mới là sự khôn khéo của phái ĐẸP, có đúng không hỡi NHỮNG NGƯỜI VỢ ĐÁNG KÍNH ?