Thứ Hai, 21 tháng 1, 2013

RỒI  MÙA…                                                                
“Rồi mùa toóc rạ, rơm khô
Bậu về quê bậu biết nơi mô mà tìm”
                                                           - Ca dao-
                                                                           
          Thời Pháp đô hộ, giai cấp phong kiến nắm trong tay phần lớn ruộng đất, nông dân bần cùng phải đi làm công, làm mướn cho chủ đất để kiếm cái ăn, cái mặc. Ruộng đất nhà giàu cò bay thẳng cánh, dân nghèo tứ cố vô thân kéo đến làm thuê đông nghịt. Cái cảnh“chủ” và “đầy tớ” thịnh hành suốt cả một thời gian dài trên mọi làng quê Việt Nam. Kẻ ngồi mát ăn bát vàng, kẻ ăn không hết, người lần không ra án ngữ nặng nề trên những xóm thôn. Đẳng cấp, giai tầng xã hội bị phân hóa sâu sắc. Kẻ nắm ruộng đất trở thành những ông chủ giàu có. Nông dân nghèo phải è mình ra chịu nhiều thứ thuế đè nặng hai vai, phải bán hết ruộng đất, trở thành người trắng tay, làm thuê cho chủ ngay trên phần đất hôm qua đang là của mình. Người nghèo làm thuê cho nhà giàu là điều tất yếu xẩy ra trong xã hội bất công đương thời. Nhà giàu bố trí người làm theo tổ, nhóm và cắt cử người theo dõi, giám sát nghiêm ngặt tận nơi làm việc. Ai làm việc không năng suất hoặc có ý lãn công thì người được chủ tin tưởng phân công theo dõi liền báo ngay với chủ trừ tiền của ngày hôm đó. Nhà giàu bố trí người làm rất chặt chẽ và có tai mắt ở khắp nơi. Kiếm được đồng tiền, bát gạo của nhà giàu phải đong bằng mồ hôi, nước mắt cùng với sự cơ cực, tủi nhục. Nhóm cày, bừa, làm đất là đàn ông khỏe mạnh. Nhóm nhổ mạ, đi cấy, trồng khoai là phụ nữ nhanh nhẹn hoạt bát. Chủ nhà chỉ lựa chọn người làm được việc mới nhận. Còn nhóm đưa cơm, nước, lo việc trong nhà là người thân tín của chủ. Các nhóm được phân ra rạch ròi để ai nấy lo phần việc của mình. Nhưng họ lại có mối liên kết khăng khít với nhau, hỗ trợ nhau trong những lúc khó khăn. Đã cùng thân phận “áo ngắn” nên họ đoàn kết, bênh vực nhau khi bị chủ đối xử tệ hoặc bớt xén tiền công.
           Có chàng thanh niên ở huyện Như Hà tên là Lường mới lập gia đình ở riêng. Vợ đang mang thai, cuộc sống khó khăn, túng bấn nên anh ta đã tìm đến làm thuê cho nhà phú ông ở huyện Yên Mỹ. Anh là thợ cày, bừa rất giỏi. Chủ thuê mướn rất thích. Các cô thợ cấy tranh nhau những đám ruộng do Lường cày, bừa vì đất nhuyễn, cắm cây mạ mát tay. Trong đoàn thợ cấy có Hương là cô gái mồ côi, gốc gác bà con cùng họ với nhà phú ông. Cô này đi ở cho nhà phú ông đã sáu năm nên thạo việc đồng áng, đặc biệt nhổ mạ, cấy lúa luôn dẫn đầu cả nhóm. Cô lại hay giúp đỡ chị em cùng cảnh ngộ. Được Hương bày vẽ tận tình nên chị em mới đến gia nhập nhóm cấy lên tay rất nhanh. Lúc nào nhóm của Hương cũng gánh mạ đến sớm, luôn luôn giành được những đám ruộng do Lường cày bừa. Nhóm bừa và nhóm cấy rất hợp nhau. Vì chủ nhà đã khoán rất cụ thể từng đầu việc trong ngày cho nên mọi người cặm cụi làm cho xong phần của mình để chủ không bắt bẻ hoặc hạ tiền công. Lường có dáng người đậm đà, chắc nịch, làm việc xông xáo nên chị em cứ hay gần gủi trêu đùa. Trời nắng nóng, anh ta lột áo ném lên bờ, ở trần cho mát, vận quần đùi làm việc cho tiện, bày ra thân hình vạm vỡ, cơ bắp nổi lên cuồn cuộn, bóng loáng như bôi mỡ, thu hút ánh mắt của các cô gái. Cô nào chưa chồng cũng ước thầm trong bụng: “Giá như mình có được anh chàng khỏe mạnh như thế thì sướng biết mấy”. Té ra chị em phụ nữ cũng ham muốn vẻ đẹp thân thể đàn ông, cũng mê đàn ông chẳng khác gì đàn ông mê gái, nhưng không chị nào thổ lộ cả. Đàn ông có dáng vóc đẹp, săn chắc cũng là lợi thế trong chuyện tiếp cận phụ nữ, dễ làm cho chị em xao lòng, si mê, khao khát. Trong thực tế, phụ nữ rất mạnh mẽ, khi đã thích người đàn ông nào là tìm mọi cách để giành cho bằng được, chỉ khác đàn ông là họ rất quyết liệt nhưng kín đáo, giữ kẽ để khỏi mang tiếng “cọc đi tìm trâu”. Tình yêu và ham muốn của phụ nữ rừng rực như bếp than hồng, âm ỷ và dai dẳng, không dễ dập tắt. Hiểu được chuyện đó mới thông cảm cho chị em lúc đang yêu. Họ có những chiêu quyến rủ đàn ông theo kiểu riêng của giới nữ. Nhiều chàng trai khờ khạo đã bị chị em khôn khéo tìm mọi cách làm cho “sập bẫy” nên phải chấp nhận cưới vì đã lỡ “có chuyện” rồi, không thể chối. vậy là cô gái đã chiếm được người con trai mình thích.  
           Có khi xong phần việc của mình, Lường để nguyên thân trần như thế nhảy xuống ruộng cấy giúp chị em vài bó mạ. Tính anh chàng vui vẻ, hay giúp người khác nên nhóm thợ cấy cảm mến, thân thiện. Chị em là nhà nông chính hiệu nên rất mạnh bạo trong ăn nói cũng như việc làm. Hương có cảm tình riêng với anh chàng Lường. Đi làm mướn, nhưng mọi người cũng có thời gian rỗi ban đêm, nhóm này vẫn đến chơi với nhóm khác rất tình cảm. Người làm thuê cho nhà này vẫn đến chơi với bạn đang làm thuê cho nhà khác. Nhiều người đi làm thuê lâu ngày nên có dịp quen biết, đi lại thân tình với nhau. Không ít cặp trai gái đã bén duyên, sau đó đưa nhau về quê, nên vợ thành chồng. Những mối tình như thế sống với nhau bền chặt, thủy chung vẹn toàn, họ chỉ đến chính quyền làm thủ tục đăng ký là xong, không tổ chức đám hỏi, đám cưới. Nghèo khổ, cơm độn sắn khoai ngày ba bữa còn khó khăn, lấy tiền đâu để mà làm cỗ bàn mời họ hàng, làng xóm? Đám cưới là ngày trọng đại của đời người nhưng quá khổ cực cũng đành xin “kiếu”, biết làm sao được? Chỉ làm một mâm cơm đặt lên bàn thờ, thắp mấy nén nhang vái lạy tổ tiên để về sống với nhau cho phải đạo. Thế nhưng những đôi vợ chồng ấy vẫn sống hạnh phúc bên nhau đến đầu bạc răng long theo đúng nghĩa của nó.
          Những đêm trăng thanh gió mát, trai gái từ nơi xa đi làm thuê ở lại nhà chủ thường rủ nhau ra đồng hóng gió, nói đủ chuyện trên trời dưới đất. Con trai con gái gần gủi nhau, bày ra nhiều trò vui như hò hát đối đáp, kể chuyện tiếu lâm… Có khi họ còn tổ chức thi vật từng đôi nam nữ mà chả hề e ngại gì cả. Họ chơi với nhau vô tư như hàng ngày cùng làm bên nhau vậy. Nhóm thợ cày chọn Lường đại diện để vật nhau với Hương ở nhóm thợ cấy. Hai người này khỏe mạnh, cân sức, cân tài. Mỗi nhóm còn cử ra một người làm trọng tài cho khách quan. Nếu đại diện của nhóm nào thua thì cả nhóm phải cõng những người trong nhóm thắng đi một vòng quanh đám ruộng rất rộng. Họ chơi vui vẻ và thực hiện luật chơi rất nghiêm túc. Theo quy định: “ba keo mèo mở mắt”, tức là vật nhau phải ba keo mà bên nào thắng hai mới phân thắng bại. Có hai lần, Lường giả vờ trượt chân, bị thua, để cho chị em thợ cấy vỗ tay reo hò đắc chí khi Hương đè được anh chàng Lường dũng mãnh ngã chỏng vó. Thế là các chàng thợ cày phải gập lưng xuống cõng chị em thợ cấy, trông buồn cười vỡ cả bụng. Đây là mẹo do Lường bày đặt, tạo cơ hội cho các anh chàng được dịp trêu ghẹo chị em cho khoái. Có anh nghịch, cứ vòng tay sau lưng níu chặt hai bắp đùi của cô gái, đi hết vòng này qua vòng khác, không chịu bỏ xuống, khiến cô gái phải đấm thùm thụp vào lưng anh ta mới chịu dừng lại. Có anh giả vờ ngã chúi làm cho cô em đang ngồi vắt vẻo sau lưng, rung đùi, ngửa mặt cười đắc chí, bất ngờ bị dúi mạnh, ép hai đầu vú vào lưng chàng trai, biết bị chơi xỏ nhưng cố nhịn vì chả làm gì được. Kể cũng vui. Có chị đỏ mặt ngượng ngùng vì có chàng nghịch ngầm, cứ bước đi chầm chậm và bấm bấm móng tay vào mông, làm cho chị ta nảy nảy người lên trên lưng theo nhịp bước của chàng trai nhưng không dám kêu vì xấu hổ. Các chàng trai nghĩ ra nhiều trò tinh quái khi bị thua cuộc, được phục vụ các chị. Tiếng cười khúc khích của cánh đàn ông bật lên, khiến chị em xúm lại cấu véo, thi nhau đấm vào lưng những anh chàng có“âm mưu” nghịch ngợm. Và những trận cười lại rộ lên khắp cánh đồng. Những cuộc vui nam nữ như thế, hôm sau sẽ trở thành chuyện kể râm ran trong đám người làm. Niềm vui ấy đã giúp cho mọi người quên hết mệt nhọc của tháng ngày làm mướn cho nhà giàu, để tạm quên đi thân phận nghèo khổ. Qua những lần gần gủi, tự nhiên Hương và Lường phải lòng nhau. Chả biết anh chị quan hệ với nhau lúc nào mà khi xong mùa cày cấy, mỗi người một ngả thì Hương đã có mang. Hương cứ nghĩ, chỉ vài tháng đến mùa gặt là anh ấy trở lại, chỉ cần anh nhận con là được, coi như đứa con có bố. Quan niệm tình yêu của nông dân đi làm thuê thời ấy rất đơn giản. Họ yêu nhau, lấy nhau cũng không cần môn đăng hộ đối. Bao nhiêu cặp vợ chồng đã xây dựng gia đình như thế. Hương yêu Lường và trao gửi hết cho chàng trai ấy cũng từ suy nghỉ giản đơn là mùa gặt tới, anh ấy sẽ trở lại rồi hai đứa dẫn nhau về quê sinh nở. Hương không biết anh ấy đã có vợ. Với lại, nếu anh ta có vợ thì cũng chả sao cả, chỉ bị tai tiếng một thời gian thôi, sau đó chả ai nhắc đến nữa. Thời phong kiến, chuyện đàn ông năm thê bảy thiếp là bình thường, không phải bị nghiêm cấm theo luật hôn nhân và gia đình như sau này. Thế nhưng, khi khắp mọi cánh đồng, lúa chín rộ, trai gái từ nhiều nơi kéo đến gặt thuê cho nhà giàu, vàn công cho nhau để kịp mùa vụ mà chẳng thấy tăm dạng Lường đâu cả. Bụng Hương ngày càng to, làm việc mỏi mệt, ể oải. Nhà phú ông biết chuyện Hương có mang với anh chàng Lường nhưng không rõ anh ta ở tận nơi nào để tìm bắt anh ta phải nhận hậu quả đã gây ra. Còn Lường khi xong đợt làm thuê, nhận tiền và gạo về nhà thì cũng là lúc chăm lo cho vợ đang ở cữ. Anh không trở lại nhà phú ông như lời hẹn với bạn cày, bạn cấy. Trong lòng người đàn ông này vẫn còn văng vẳng câu hát của mấy cô trong đoàn thợ cấy, nghe cứ  buồn buồn, da diết, nôn nao:
                                      Anh về, đến hẹn… nhớ lên
                             Ngày ngày em ngóng, đêm đêm em sầu…
          Tình cảm nhà nông mộc mạc, chân chất. Tình yêu của họ cũng bộc trực, tha thiết giống như câu hát ẩn chứa tất cả nổi niềm yêu thương tha thiết, thấm đẫm vị bùn đất màu mỡ ấp ủ những mùa vàng rạo rực lòng người. Tình yêu ấy nảy mầm trong lam lũ, nhọc nhằn, nó thanh khiết như hương đồng gió nội, không hề có một chút gợn tính toán thiệt hơn…
          Lường đành tạm biệt bạn cày, bạn cấy, tạm biệt những tháng ngày làm thuê vất vả nhưng mà vui vì đông bạn bè từ nhiều nơi tụ hội. Trong thâm tâm, Lường muốn có dịp trở lại làm ở nhà phú ông để gặp người con gái đã có tình có nghĩa sâu nặng với mình. Thời gian thầm lặng trôi qua, anh quên hẳn người bạn gái có tên là Hương đã từng say đắm, ôm ấp, chiều chuộng anh bên một cồn đất hoang ở giữa đồng vào những đêm khuya. Hai anh chị đã sống những giờ hạnh phúc trọn vẹn chỉ có sao trời chứng kiến. Anh ra về không hay biết người con gái ấy đã mang giọt máu của mình. Hương chưa nói cho anh biết chuyện đó. Cô chỉ nghĩ rằng: vài tháng sau là đến mùa gặt, anh trở lại rồi nói cũng chưa muộn. Chính cô cũng chưa một lần hỏi địa chỉ người con trai mà mình đã giao trọn tất cả những cái quý giá nhất của người con gái. Bây giờ biết anh ở nơi mô mà tìm? Chuyện dại - khôn trong tình yêu nói làm sao cho hết? Khi biết khôn thì đã lỡ dại rồi, không sửa được nữa. Xong vụ gặt, Hương nghỉ chờ ngày sinh con, không đi làm cho nhà phú ông nữa.
           Đứa con gái của Hương có gương mặt rất giống mẹ. Người ta bảo rằng: con chửa hoang, nếu là trai thì giống cha y tạc, nếu là gái thì giống mẹ như đúc. Hàng ngày ru con, Hương hát những câu nghe buồn buồn với tâm trạng bâng khuâng, trách móc người tình sao nỡ vô tâm, để người yêu chịu trận một mình:
Rồi mùa, toóc rạ, rơm khô
Bậu về quê bậu, biết nơi mô mà tìm?
          Rồi mùa, tức là đã xong mùa vụ, nhưng cũng là xong một cuộc tình. Hai người đã trao gửi hết cho nhau, khi thỏa mãn rồi thì em ngả, anh nghiêng, giống như “toóc rạ, rơm khô”. Ẩn ý của người xưa thật là kín đáo. Cũng có những chàng trai khi đã thỏa mãn, tỏ ra chán chường, bỏ của chạy lấy người, không dám chịu trách nhiệm. Thật là phũ phàng. Lời ru ấy, Hương đã nghe từ nhỏ và hát ru con của mình, vì nó đúng với nổi lòng cô lúc này. Lời ru, nói đúng hơn, chính là lời giận hờn sâu kín xen lẫn nhớ nhung, hoài vọng, thắc thỏm của người con gái. Đó là cách nói bóng bẩy để chỉ tình yêu trai gái dành trọn cho nhau và đã trót xẩy ra chuyện hoang thai nhưng không lấy được nhau vì nguyên nhân từ phía gia đình. Người đàn ông vô tâm đã để lại hậu quả chỉ một mình người con gái gánh trọn. Xong cuộc tình, anh ta phủi tay trơn tru không còn dấu vết. Cái mà anh ta để lại làm khổ một đời con gái. Bao nhiêu cuộc tình vụng trộm như thế đã xẩy ra, để lại trong dân gian những tiếng thở dài não nề, hờn giận của những phụ nữ không chồng mà có con vì trót yêu, vội tin và dại khờ, nông nổi.
                                    Rồi mùa toóc rạ, rơm khô
           Nghe lời ru con của Hương, không ít người nao nao buồn, thương những mối tình bất hạnh, cảm thông với những cô gái chân quê nông nổi vì yêu mà dang dở cuộc đời. Những câu chuyện tình trái ngang như thế đã từng hiển diện đó đây.  
           Do có họ hàng nên gia đình phú ông thương tình cho Hương một đám đất nhỏ đủ làm một túp lều cho hai mẹ con trú ngụ. Đứa con gái lớn lên chỉ quẩn quanh theo mẹ đến nhà phú ông làm thuê. Tuy còn nhỏ nhưng nó đã biết những công việc mẹ từng làm. Thời buổi khó khăn, dưới sự đô hộ của thực dân, phong kiến, kiếp nông dân cha truyền con nối việc đồng áng lam lũ, rồi đi làm thuê vì đất ruộng hầu hết tập trung trong tay kẻ giàu có.
           Khi Bưởi - đứa con gái của Hương đến tuổi mười sáu, nhưng trông đã là dáng dấp thanh nữ - Nó thay mẹ đi làm cho nhà phú ông, để mẹ ở nhà nuôi con lợn và chăm sóc luống rau, mấy con gà. Cuộc sống túng thiếu triền miên nhưng nhờ tằn tiện nên hai mẹ con vẫn đắp đổi tháng ngày.
+   +    
+
          Thường là đứa con trai của Lường nay đã khôn lớn. Nó làm thay bố những công việc nặng nhọc. Năm ấy trời hạn hán, mất mùa, nạn đói lan rộng trên nhiều làng quê. Trong hoàn cảnh đó, Lường đã để đứa con trai của mình đi làm thuê cho nhà phú ông ở huyện Yên Mỹ. Theo địa chỉ bố bày vẽ, Thường đi gần một nửa buổi mới đến đúng nhà phú ông. Thấy chàng trai dáng vóc nở nang, tràn đầy sinh lực, gia đình phú ông rất mừng, nhận ngay vào làm ở đội thợ cày. Dạo này, người làm thuê hết đợt đến đợt khác, toàn người góp, ai cũng lo làm để xong đợt nhận tiền và gạo đem về nuôi gia đình đang lúc khó khăn, họ ít quan tâm đến gốc gác của nhau. Có nhiều người chỉ làm mươi ngày hoặc một vụ rồi không trở lại nữa. Anh chàng Thường cũng ở trong hoàn cảnh ấy nên hàng ngày chăm chỉ cày bừa cho chủ để mong được trả công xứng đáng. Đây là giai đoạn cái ăn, cái mặc khổ cực quá nên người ta phải quần quật, không có thời gian nghỉ chuyện này chuyện nọ. Chủ nhà do nóng việc thời vụ nên đã tổ chức làm thông tầm cả trưa và trả thêm tiền công cho người làm. Mặc dù vất vả, mệt nhọc nhưng có thêm tiền thì ai cũng thích và cố rán. Do làm quá sức, Thường bị ốm nhưng vẫn không chịu nghỉ. Chủ nhà biết vậy liền bảo con Bưởi nấu cho Thường nồi lá xông để về đêm xông cho chóng lành bệnh. Nhờ nồi lá xông ấy mà Thường khỏe hẳn. Trong đoàn người làm thuê, Thường và Bưởi là trẻ nhất, rất xứng đôi. Người ta hay ghép tình duyên cho cặp trai gái này. Kể ra cũng hay. Nếu chúng thành đôi thành đũa cũng là tốt thôi. Khi mọi người trêu đùa, anh chị đỏ mặt lên, lảng đi chỗ khác. Thực ra, anh chị đã có cảm tình với nhau nhưng chưa ai dám thổ lộ nổi lòng.
           Nhà của Bưởi ở gần khu gia cư của phú ông. Có một hôm, sau khi ăn tối xong, Bưởi mạnh dạn rủ Thường đến nhà mình chơi. Thường phấn khởi theo cô gái về nhà. Mặc dù ánh đèn dầu hỏa mờ tỏ nhưng bà Hương vẫn nhận rõ được mặt người con trai. Vốn là người cùng cảnh ngộ nên họ nói chuyện thân mật như người trong một nhà. Thường kể với bà Hương rằng, bố của mình ngày xưa cũng đi làm cho nhà phú ông ở huyện này. Nhiều nhà giàu trả tiền cho người làm thuê rẻ mạt. Riêng nhà phú ông ở đây có nới tay hơn trong việc thanh toán cho nhân công và đối xử với người làm đỡ hơn nên người nghèo ở xa cũng tìm đến. Bà Hương đã đoán Thường là con trai của Lường. Ngay khuôn mặt, dáng hình của nó đã chứng minh rất rõ. Để khẳng định suy đoán của mình, bà Hương hỏi:
          - Bố cháu tên gì?
          - Dạ, bố cháu tên là Lường ạ.
           Thế là đúng rồi. Như vậy Thường và Bưởi là anh em cùng cha khác mẹ. Chúng nó đều có chung dòng máu. Nhìn kỹ sẽ thấy Thường có những nét giống Bưởi, nhất là đôi mắt và cặp lông mày. May mà trời đất xui khiến nên con Bưởi đưa thằng Thường về đây, nếu không thì phải ân hận một đời vì chuyện loạn luân. Tất cả đều do cuộc tình vụng trộm của bà tạo ra. Từ trước đến nay, bà không cho Bưởi biết bố nó là ai. Với lại, ngay chính bà cũng không biết quê hương, bản quán của người đàn ông ấy nữa là... Bà cảm ơn trời phật thương tình nên đã cho bà biết để ngăn chặn mối tình mà con gái sắp bước vào. Thật hú hồn, hú vía. Hôm sau, bà buộc lòng kể cho con gái nghe toàn bộ về chuyện tình ngày xưa của mình. Bưởi nghe xong thật sự bàng hoàng. Cũng may, anh chị chưa hề có gì với nhau, kể cả một lời tỏ tình. Nghe chuyện mẹ kể, Bưởi bị xốc. Cô nằm lỳ trên giường, không đi làm. Mẹ hỏi gì cô cũng im lặng. Bà Hương cứ nghỉ con ốm, đi kiếm lá để sắc cho nó uống. Đến trưa, Bưởi nói với mẹ, giọng buồn bã:
          - Con không đi làm bên ấy nữa. Từ mai, mẹ xin cho con làm ở nhà ông Quỳ dưới xóm Riềng cũng được. Con nghe nói nhà ấy đang cần người làm đất trồng đậu xanh cho kịp vụ. Nghỉ ở nhà, tiếc lắm.
          Bà Hương hơi phân vân một chút rồi cũng đồng ý vì con gái có cái lý riêng của nó. Bưởi không muốn đến nhà phú ông vì sợ sẽ gặp Thường là anh trai nhưng cô đã thầm yêu trộm nhớ trong lòng từ khi Thường đến làm cho nhà ấy. Hiểu được tâm trạng và sự khó xử của con gái, bà nói:
          - Con nghĩ cũng phải. Chiều nay mẹ đến nhà ông Quỳ hỏi việc cho con.
          Bưởi còn dặn:
          - Mẹ nhớ sang bên nhà phú ông báo con nghỉ làm kẻo họ trách, vì họ đàng hoàng với mình, chứ con không đến bên đó nữa đâu, ngại lắm…
          - Ừ, mẹ hiểu rồi!
          Từ khi Bưởi khôn lớn, bà Hương không đi làm thuê nữa. Do cuộc sống kham khổ, trông bà gầy yếu và già trước tuổi. Nét thanh xuân của cô thôn nữ trẻ trung, đầy đặn thuở nào nhanh chóng phôi pha theo thời gian bươn chải khổ cực. Mọi chuyện vui buồn bà đều gửi gắm vào đứa con gái ngoan hiền. Bưởi thương mẹ, chưa bao giờ làm mẹ phải buồn khổ vì mình cả. Cuộc sống tuy đạm bạc nhưng mẹ con đùm bọc nhau đầm ấm. Túp lều tranh với chiếc giường tre, cùng một vài thứ lặt vặt không đáng giá, nhưng bếp lửa vẫn ngày ngày ba lần tỏa khói, đó là cái hồn của làng quê đất Việt dân giả, cho dù đói khổ nhưng không ai quay lưng lại với xóm làng, con cái không chê mẹ cha nghèo khó. Bưởi lớn lên trong hoàn cảnh ấy nên càng thương mẹ gần trọn cuộc đời rau cháo, nuôi con nên vóc dáng hình hài như hôm nay…
          Thế là hôm sau, Bưởi lặng lẽ đi làm thuê cho nhà khác. Vắng Bưởi, Thường thấy trong lòng trống trải, bâng khuâng vô hạn. Cả nhóm thợ cấy cũng buồn lây, chị em ít cười nói như mọi khi.
          Khi xong vụ cày cấy, trước khi về quê, Thường tìm đến nhà Bưởi để tạm biệt người con gái đã vô tình gieo vào tâm hồn mình những con sóng xao động không yên. Ngôi nhà đơn chiếc, cô quạnh. Trưa ấy, Bưởi nghỉ lại nơi làm. Tiếp chàng trai là mẹ của Bưởi. Bà Hương nói với chàng trai rằng:
          - Con Bưởi mới đi lấy chồng ở xa…
          - Khi nào Bưởi về nhà hở bác?
          Bà Hương phải nói dối:
          - Nhà chồng neo người, chắc lâu nó mới về thăm bác được.
          Trong thâm tâm, bà Hương muốn chàng trai đừng đến làm thuê cho nhà phú ông nữa, để con gái của bà lại trở về làm bên ấy cho mẹ con được gần nhau. Bà muốn mọi chuyện bí mật của bà và “người ấy” phải được giữ kín mãi mãi. Nghe bà mẹ nói thế, Thường thấy lòng nặng trĩu, hụt hửng. Anh ra về mang theo nổi niềm thương nhớ mông lung. Sẽ chẳng bao giờ anh đến nơi này nữa. Vì còn gì cuốn hút, thúc giục sự hăm hở của chàng trai khi hình bóng người con gái kia đã biền biệt phương nào? Chàng trai ấy không hay biết chuyện gì đã xẩy ra giữa bộ ba: Bố - bà Hương và Bưởi. Mọi chuyện sẽ đi vào quên lãng theo năm tháng rêu phong. Xa mặt- cách lòng, mọi vui buồn rồi cũng sẽ phai nhạt dần trong ký ức.
           Thế rồi, Bưởi cũng lấy chồng khi bước sang tuổi mười chín. Chồng của Bưởi là một thanh niên cùng làng. Nhà anh ấy nghèo, đông người nên về ở rể nhà vợ. Tuy gia cảnh nhà vợ cũng nghèo khó nhưng họ thương yêu nhau, sống hạnh phúc trong ngôi nhà tranh vách đất lúc nào cũng vui vẻ, ấm cúng. Hàng ngày, vợ chồng Bưởi đi cày thuê, cấy mướn, bà Hương ở nhà chăm đứa cháu ngoại. Cứ ngỡ trái tim người bà đã nguội lạnh về cuộc tình sâu đậm ngày xưa. Nhưng từ khi thấy mặt đứa con của người ấy, bà Hương chạnh lòng nhớ lại tất cả. Nỗi buồn được khơi lại, tươi roi rói, khiến lòng bà nhức nhối. Chuyện ái tình làm khổ con người, nó có chừa độ tuổi nào đâu? Tình yêu mãnh liệt, ngất ngây của bà chỉ xuất hiện trong một thời khắc ngắn ngủi, không còn tái diễn thêm lần nào nữa. Bà chịu  thiệt thòi quá lớn của phận “làm vợ”. Bà nâng niu, gìn giữ những giờ phút êm đềm lắng đọng của kỷ niệm xưa. Tất cả tái hiện rất rõ ràng:
           …Cái gò đất hoang cỏ mọc um tùm giữa đồng vào những đêm hò hẹn. Một tình yêu nồng nàn của đôi trai gái Lường và Hương diễn ra say đắm. Anh chị đã dành trọn cho nhau… để có con Bưởi bây giờ…  sao mà quên được? Đó là hạnh phúc ngọt ngào, đẹp như ánh hào quang lóe lên trong cuộc đời để rồi cay đắng, ngậm ngùi hết một thời con gái đầy khao khát của bà. Thôi, cũng qua một kiếp người, biết trách ai? Âu cũng bởi mình duyên phận mỏng manh…
          Những lời ru Bưởi ngày trước, bây giờ bà Hương lại hát ru cháu ngoại. Cứ chiều chiều, khi ánh nắng không còn gay gắt, gió nồm từ phía biển ùa vào mơn man da thịt, người ta nghe từ nếp nhà tranh trong xóm nhỏ cất lên tiếng à ơi của người bà, lúc trầm lúc bổng, như niềm riêng thao thiết đã từng nổi chìm, vật vã cùng năm tháng tủi hờn:
                             ( à ơi…) Rồi mùa toóc rạ…rơm khô…(ơ ơ ơ)
                   Bậu về quê Bậu…(à à ơi…)biết nơi mô…mà tìm…(à ơi…hời…)
          Bậu là cách gọi của người miền Trung và Nam bộ, còn người miền Bắc gọi là bạn. Rồi mùa, bậu về quê bậu, cũng giống như bóng chim, tăm cá biết đâu mà lần? Người đâu mà vô tâm thế? Sao mà bạc tình bạc nghĩa đến thế, hỡi ai? Lời ru như hóa thạch, tạc vào lòng người, găm vào năm tháng làm chảy máu con tim thổn thức. Lời ru cứ ngân nga, đồng vọng khôn nguôi. Đứa trẻ ngủ say trong tiếng ru hời và nhịp nôi đưa kẽo cà kẽo kẹt như tan vào ngọn gió nồm nam rười rượi đất trời. Nhưng lời ru có phải dành cho con trẻ đâu? Nó còn thao thức bồng bềnh, da diết, sao mà thấy chua cay, chát đắng, trách người một, trách mình mười. Tất cả trải ra, nghe nhoi nhói trong tâm hồn và gợi lên bao nổi niềm trắc ẩn chốn nhân gian…

                                                                                     

                                                                            

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét